vanban.org

Bản án 132/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Củ Chi, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 22/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phan Tấn Đ phạm tội “Cướp t i sản” v tội “Hiếp dâm”.

Buộc bị cáo Phan Tấn Đ có trách nhiệm: B i thường cho chị Trần Thị Kim N số tiền 100.000.000 (một trăm triệu) đ ng; b i thường cho chị Trần Nguyễn Khánh L số tiền 100.000.000 (một trăm triệu) đ ng v b i thường cho Tô Thị Minh A1 số tiền 50.000.000 (năm mươi triệu) đ ng. Kể từ ng y chị Trần Thị Kim N… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cướp tài sản và Hiếp dâm - phạm tội cướp tài sản (điều 168 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phan Tấn Đ phạm tội “Cướp t i sản” v tội “Hiếp dâm”.
  • Căn cứ chính? Điều 168 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN C CHI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PH H CH MINH
Bản án số: 132/2023/HSST
Ngày: 22/6/2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CH NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C CHI, TH NH PH H CH MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Văn Thắm.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Võ Văn Dương.

2. Ông Huỳnh Văn Bé.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tâm – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Th nh phố H Ch Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C Chi, Thành ph Hồ Chí Minh: Ông Nguyễn Văn Hiếu – Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 6 năm 2023, tại Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Th nh phố H Ch Minh xét xử sơ thẩm kín vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 71/2023/TLST-HS, ngày 11 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 120/2023/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:

Phan Tấn Đ, sinh năm 1998, tại tỉnh Sóc Trăng, nơi thường trú: Ấp Trường Thọ, xã A, huyện K, tỉnh S; chỗ ở: Ấp 12, xã T, huyện C, Th nh phố H; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 9/12; giới t nh: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Phan Tấn Q và bà Huỳnh Thị Kim X; vợ tên Nguyễn Thị Thúy P; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt theo Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bị tạm giữ, tạm giam từ ng y 24/8/2022 cho đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại:

1. Chị Trần Nguyễn Khánh L, sinh ng y 19/3/2004; địa chỉ: Số 31/1, đường Lê Thị Bay, ấp 6A, xã T, huyện C, Th nh phố H (có mặt).

2. Chị Trần Thị Kim N, sinh ng y 04/11/2004; địa chỉ: Số 250, Tỉnh lộ 15, tổ 5, ấp 11, xã T, huyện C, Th nh phố H (vắng mặt).

3. Tô Thị Minh A1, sinh ng y 20/9/2008, địa chỉ: Số 31/1A, đường Lê Thị Bay, ấp 6A, xã T, huyện C, Th nh phố H (có mặt).

Người đại diện hợp pháp của Tô Thị Minh A1: Bà Nguyễn Mộng L1, sinh năm 1985, l mẹ của Minh A1, địa chỉ: Số 31/1A, đường Lê Thị Bay, ấp 6A, xã T, huyện C, Th nh phố H (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các t i liệu có trong h sơ vụ án v diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tại bản cáo trạng số 69/CT-VKS.CC ngày 07/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Củ Chi để xét xử Phan Tấn Đ về h nh vi phạm tội như sau:

Do Phan Tấn Đ vay tiền N hàng nhưng đến hạn không có tiền trả tiền lãi v tiền gốc nên Đ nảy sinh ý định cướp t i sản của những người nữ bán h ng qua mạng xã hội để bán lấy tiền trả nợ. Đ ng thời do nhu cầu sinh lý bản thân nên Đ đã thực hiện h nh vi hiếp dâm những người nữ n y, cụ thể Đ đã thực hiện 02 vụ án như sau:

Lúc 16 giờ 30 phút ng y 01/8/2022, Phan Tấn Đ sử dụng điện thoại di động hiệu Iphone XS Max, m u Gold lên mạng Facebook qua nick “QT” của Đ thấy nick “Kim N” của chị Trần Thị Kim N bán nước hoa nên Đ nhắn tin qua Messenger với chị N hỏi mua nước hoa v xin số điện thoại kết bạn Zalo nick “Kim N” của chị N và nick Zalo của Đ l “TN” liên lạc đặt h ng v gửi định vị hẹn giao h ng. Đ đặt mua 02 chai nước hoa với giá 700.000 đ ng v hẹn giao h ng tại xã HP nhưng do xa quá nên chị N không đ ng ý v hẹn giao h ng lúc 19 giờ 00 phút cùng ng y tại chợ Sáng thuộc xã T, huyện C thì Đ đ ng ý. Đến khoảng 18 giờ 30 phút cùng ng y, Đ lấy con dao Thái Lan, cán bằng nhựa m u v ng, d i khoảng 21cm tại phòng trọ cất giấu v o túi quần trước bên phải Đ mặc trên người. Đ điều khiển xe gắn máy hiệu Honda, loại Airblade, m u đỏ, biển số 83C1 – 588.51 một mình đi từ phòng trọ đến chợ Sáng thuộc xã T, huyện C r i quẹo v o đường Bến Than tại khu đất trống thuộc ấp 1, xã T, huyện C. Lúc n y, chị N nhắn tin v điện thoại qua Zalo cho Đ hỏi địa điểm giao h ng thì Đ nói sẽ gửi định vị. Sau khi Đ gửi định vị cho chị N thì đứng chờ khoảng 10 phút, Đ thấy xung quanh có nhiều người qua lại nên điều khiển xe gắn máy đi tìm chỗ vắng người thuận lợi cho việc thực hiện h nh vi phạm tội. Đ điều khiển xe đến khu đất trống tại đường 107, ấp 11, xã T, huyện C quan sát thấy t người qua lại, không có nh dân nên Đ đi v o bụi cây giấu xe gắn máy của mình r i đứng tại đây chờ chị N đến. Khoảng 05 phút sau, chị N điện thoại qua Zalo cho Đ hỏi địa điểm giao h ng thì Đ tiếp tục gửi định vị cho N. Khoảng 05 phút sau, Đ thấy chị N điều khiển xe gắn máy một mình đến dừng xe trên đường cách chỗ Đ khoảng 50 mét nên Đ đi ra hỏi “Giao nước hoa hả?” thì chị N trả lời “Đúng r i”. Đ tiếp tục hỏi “Bao nhiêu tiền?”, chị N trả lời “700.000 đ ng” r i Đ lấy trong túi quần ra con dao Thái Lan cầm trên tay phải đứng hơi chếch về ph a sau bên phải chị N, vòng tay phải kề mũi dao v o cổ bên trái chị N v yêu cầu chị N đi v o bên trong bụi cây thì chị N hỏi “Đi vô có bị gì không?”, Đ trả lời “Không có gì hết, đi vô đây khiêng phụ anh cái bao n y”. Đ cầm dao trên tay phải kề v o cổ chị N đe dọa, chị N sợ nên đ ng ý đi v o bụi cây. Đến nơi, Đ cầm dao trên tay phải đứng đối diện chị N, cách khoảng 0,5 mét, hướng mũi dao về ph a chị N yêu cầu chị N nằm xuống, thấy N không làm theo nên Đ đe dọa “Không nằm xuống thì tao giết” nên chị N nằm ngửa xuống đất, Đ cấm mũi dao xuống đất. Đ dùng tay phải cởi quần ngo i v quần lót của chị N ra đến giữa đùi r i kêu chị N tự cởi quần. Chị N cởi quần ngo i v quần lót đến đầu gối, Đ tự cởi nút quần v kéo khóa quần của Đ r i quan hệ tình dục với chị N. Đ thấy chị N quơ tay tìm kiếm con dao nên đe dọa “M y tin tao giết m y không?” thì chị N nằm im cho Đ tiếp tục quan hệ tình dục. Khoảng 05 phút sau, Đ xuất tinh ra bên ngo i âm đạo của chị N, Đ kéo khóa quần v g i nút quần lại, đứng dậy lấy quần ngo i v quần lót của chị N ném xa ra khoảng 02 mét, lấy con dao cầm trên tay phải đứng đối diện với chị N đang đứng cách khoảng 01 mét, hướng mũi dao về ph a chị N hỏi “Có t i sản gì không?”, chị N trả lời “Chỉ có điện thoại” v nhìn thấy trên tay chị N đang cầm điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax m u v ng, Đ kêu chị N “Đưa điện thoại đây”. Chị N đưa điện thoại cho Đ, Đ yêu cầu đọc mật khẩu điện thoại, chị N đọc mật khẩu l “041120”, Đ ghi nhớ mật khẩu r i bỏ điện thoại vừa chiếm đoạt được v o túi quần trước bên trái đang mặc, con dao Thái lan v điện thoại di động của Đ bỏ v o túi quần trước bên phải đang mặc r i Đ bỏ đi ra chỗ để xe gắn máy biển số 83C1 – 588.51, điều khiển xe tẩu thoát về phòng trọ của Đ. Trên đường tẩu thoát cách phòng trọ khoảng 01km, Đ dừng xe lấy điện thoại vừa chiếm đoạt được đăng nhập mật khẩu “041120” v đổi th nh mật khẩu “000000” mang về phòng trọ đăng nhập t i khoản Facebook, Zalo nêu trên của Đ để sử dụng. Do hoảng sợ nên chị N không dám trình báo Công an m đến ng y 23/8/2022 mới đến Công an xã T trình báo sự việc.

Khoảng 16 giờ 30 phút ng y 22/8/2022, Phan Tấn Đ sử dụng điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax m u v ng chiếm đoạt được v o ng y 01/8/2022 đăng nhập t i khoản Facebook “QT” v t i khoản Zalo “TN” thấy nick Facebook “Trần Nguyễn Khánh L” của chị Trần Nguyễn Khánh L buôn bán mỹ phẩm, có để số điện thoại 0963.645.217 trên ảnh bìa. Đ nhập số điện thoại n y gửi yêu cầu kết bạn với nick “KL” v được chị L đ ng ý. Đ nhắn tin đặt mua 01 chai sữa tắm v 01 hủ kem body với tổng giá trị hóa đơn l 428.000 đ ng, hẹn giao h ng tại chợ HP lúc 19 giờ 30 phút cùng ng y, chị L có xin số điện thoại của Đ để thuận tiện việc giao h ng, Đ cho chị L số điện thoại l 0344405429. Khoảng 19 giờ 00 phút cùng ng y, Đ lấy con dao Thái Lan, cán bằng nhựa m u v ng, d i khoảng 21cm nêu trên tại phòng trọ bỏ v o túi quần trước bên phải Đ mặc trên người. Đ điều khiển xe gắn máy hiệu Honda, loại Airblade, m u đỏ, biển số 83C1 – 588.51 một mình đi từ phòng trọ đến khu đất trống trên đường Bến Than thuộc ấp 1, xã HP, huyện C đứng chờ chị L đến. Khoảng 10 phút sau, chị L điện thoại qua sim 0344405429 nhưng Đ không nghe máy, chị L nhắn tin qua Zalo hỏi địa điểm giao h ng thì Đ gửi định vị cho chị L, Đ đứng từ xa quan sát. Khoảng 02 phút sau chị L điều khiển xe gắn máy loại Wave RS m u đỏ-đen, biển số 59Y2-900.21 chở em họ l Tô Thị Minh A1 (sinh ngày 20/9/2008) v gọi Zalo cho Đ nhưng Đ không nghe máy vì đang quan sát có phải đúng người giao h ng hay không. Sau khi xác định đúng chị L, Đ gọi Zalo cho chị L kêu chạy theo định vị v o bên trong x u nữa. Đ quan sát từ xa nhìn thấy chị L chở Minh A1 v o hẻm thuộc ấp 1, xã HP, huyện C, cách chỗ Đ khoảng 100m, Đ chạy xe ph a sau từ từ đuổi theo. Chị L dừng xe lại tiếp tục điện thoại v nhắn tin qua Zalo cho Đ nhưng Đ không trả lời. Đ điều khiển xe gắn máy chạy từ ph a sau lên dừng bên phải xe của chị L hỏi “Kiếm ai?”, chị L trả lời “Kiếm chị T2”, Đ tiếp tục hỏi “Kiếm chị T2 l m gì?”, chị L nói “Giao mỹ phẩm”. Minh A1 ng i sau cầm điện thoại có hình nick “TN” đưa cho Đ xem hỏi có biết chị T2 này không, Đ trả lời biết, r i lấy điện thoại trong túi quần ra giả vờ điện thoại nhưng không điện thoại cho ai, Đ giả vờ nói “Có 2 đứa n o giao đ ” r i bỏ điện thoại v o túi quần nói “Nh của chị TN ở trong đây nè”. Sau đó, Đ điều khiển xe gắn máy đi trước dẫn đường, chị L điều khiển xe chở Minh A1 đi theo sau, chạy được 300m đến khu vực đất trống, vắng người qua lại, Đ quay đầu xe lại, dừng xe r i xuống xe mở cốp xe bỏ điện thoại v o bên trong, đóng cốp xe lại. Đ lấy con dao cầm trên tay phải đi bộ đến chỗ Minh A1 đứng bên phải kề dao v o Minh A1 ng i sau xe yêu cầu tắt máy, xuống xe v tắt đèn pin điện thoại. Đ kêu cả hai xuống xe v đi ph a trước, Đ cầm dao đe dọa ph a sau Minh A1 yêu cầu cả hai đi v o bên trong khu đất trống cách khoảng 40m. Trên đường đi, Đ đe dọa kêu im lặng v nói “Tao đã từng đi tù một lần nên không sợ”.

Đến nơi, Đ cầm dao trên tay phải đứng đối diện, đưa mũi dao hướng về chị L và Minh A1 kêu ng i xuống sát bờ tường v yêu cầu “Một trong hai đứa phải cởi đ ra”, cả hai năn nỉ van xin. Đ tiếp tục hướng mũi dao về ph a L buộc một trong 02 người phải cởi đ để quan hệ tình dục với Đ. Nghe vậy, L đứng dậy cởi quần ngo i v quần lót ra để trên cỏ. Đ cầm dao trên tay phải hướng mũi dao về ph a L v yêu cầu L đưa điện thoại Iphone của L. L sợ nên đưa điện thoại Iphone 11 Promax m u v ng đang cầm trên tay cho Đ cầm trên tay trái, Đ yêu cầu L nhập mật khẩu điện thoại v đưa điện thoại cho L để L xóa t i khoản Icloud trên điện thoại, sau đó Đ chiếm đoạt điện thoại bỏ v o túi quần trước bên phải. Chị L xin lại sim điện thoại nhưng Đ không đ ng ý, cầm dao đe dọa kêu L nằm xuống v buộc L quan hệ tình dục. L sợ nên đ ng ý nằm ngửa xuống nói sợ có con, r i năn nỉ xuất tinh bên ngo i âm đạo thì Đ giả vờ nói mình bị vô sinh v hứa sẽ cho tiền mua thuốc tránh thai. Đ vứt dao v o bụi cây kế bên, tự cởi quần Jean đang mặc xuống đến đầu gối, r i thực hiện h nh vi quan hệ tình dục với L. Khoảng 05 phút sau, Đ xuất tinh ra bên ngo i âm đạo của L, Đ kéo quần lên lấy con dao trong bụi cây cầm trên tay phải đứng dậy, lấy quần ngo i v quần lót của L ném ra xa khoảng 02 mét, Đ để tiền mua thuốc tránh thai 105.000 đ ng g m 02 tờ tiền 01 tờ mệnh giá 100.000 đ ng v một tờ mệnh giá 5.000 đ ng trên yên xe chị L, r i Đ đi bộ ra chỗ để xe gắn máy biển số 83C1 – 588.51 tẩu thoát về phòng trọ của Đ, Đ đổi mật khẩu điện thoại th nh “000000”, để điện thoại chiếm đoạt được tại phòng trọ. Cùng ng y, chị L đến Công an xã HP trình báo sự việc v giao nộp số tiền 105.000 đ ng.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C tiến h nh khám xét khẩn cấp chỗ ở, đ vật của Phan Tấn Đ tại nh số 62B, đường số 127, ấp 12, xã T, huyện C, tạm giữ được 02 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax cướp được của chị N, chị L và 01 chiếc xe môtô hiệu Honda, loại Airblade, m u đỏ-đen-trắng, biển số 83C1 – 58851, số máy JF63E2685483, số khung 6313KZ055759 l phương tiện Đ sử dụng đi cướp t i sản.

- Bản kết luận giám định pháp y về tình dục số 114/TD.22 ng y 09 tháng 9 năm 2022 của Trung tâm Pháp y – Sở Y tế Th nh phố H đối với Trần Thị Kim N đã kết luận:

+ Màn trinh: Dãn. Không rách.

+ Không thấy tinh trùng trong dịch phết âm đạo, vùng âm hộ v hậu môn.

+ Chỉ hiện diện ADN người nam trong dịch phết vùng âm hộ v hậu môn nhưng không đủ cơ sở so sánh với ADN của đối tượng (BL161-163).

- Bản kết luận giám định pháp y về tình dục số 113/TD.22 ng y 09 tháng 9 năm 2022 của Trung tâm Pháp y – Sở Y tế Th nh phố H đối với Trần Nguyễn Khánh L đã kết luận:

+ Màn trinh: Dãn. Không rách.

+ Có nhiều tinh trùng trong dịch phết âm đạo, vùng âm hộ v hậu môn.

+ Hiện diện ADN người nam trong dịch phết âm đạo, vùng âm hộ v hậu môn, đủ cơ sở so sánh với ADN của đối tượng (BL164-166).

- Bản kết luận giám định pháp y về ADN số 1.226A-2022/ADN ngày 31 tháng 10 năm 2022 của Trung tâm Pháp y – Sở Y tế Th nh phố H đối với Trần Nguyễn Khánh L: ADN của Phan Tấn Đ có hiện diện trong mẫu phết dịch âm đạo, phết dịch âm hộ v phết vùng hậu môn của Trần Nguyễn Khánh L (BL175-179).

Tại Kết luận định giá t i sản số 211/KL-HĐĐGTS ng y 07/11/2022 của Hội đ ng định giá t i sản trong tố tụng hình sự - Ủy ban nhân huyện C, kết luận:

- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax, m u v ng gold, dung lượng 64GB, số Imei: 353887103974344 (t i sản đã qua sử dụng, thu h i được), có giá trị là 12.000.000 đ ng.

- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax, m u v ng gold, dung lượng 64GB, số Imei: 353902102569811 (t i sản đã qua sử dụng, thu h i được), có giá trị là 12.000.000 đ ng (BL184-185).

Tại Kết luận định giá t i sản số 30/KL-HĐĐGTS ng y 06/02/2023 của Hội đ ng định giá t i sản trong tố tụng hình sự - Ủy ban nhân huyện C, kết luận: 01 ốp điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax bằng nhựa dẻo m u đỏ có nhiều họa tiết (tài sản đã qua sử dụng, chưa thu h i được), có giá trị 10.000 đ ng (BL253-254).

Viện kiểm sát nhân dân huyện C đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện C để xét xử Phan Tấn Đ về tội “Cướp t i sản” v “Hiếp dâm” theo điểm d khoản 2 Điều 168 và điểm d khoản 2 Điều 141 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Th nh phố H luận tội: Giữ nguyên Cáo trạng số 69/CT-VKS.CC ngày 07/4/2023, lời khai của bị cáo phù hợp với nội dung Cáo trạng v các chứng cứ có tại h sơ nên đã đủ có cơ sở kết luận bị cáo Phan Tấn Đ phạm tội “Cướp t i sản” v “Hiếp dâm” theo điểm d khoản 2 Điều 168 v điểm d khoản 2 Điều 141 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Về nhân thân, bị cáo không có tiền án, tiền sự. Đối với tội “Cướp t i sản”, bị cáo có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội 02 lần trở lên. Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là th nh khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tại phiên tòa bị cáo đ ng ý tự nguyện b i thường thiệt hại cho bị hại.

Tôi đề nghị Hội đ ng xét xử: Tuyên bố bị cáo Phan Tấn Đ phạm tội “Cướp t i sản” v tội “Hiếp dâm”; áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168, điểm s khoản 1 v khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phan Tấn Đ từ 08 đến 09 năm tù về tội “Cướp t i sản”; áp dụng điểm d khoản 2 Điều 141, điểm s khoản 1 v khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phan Tấn Đ từ 07 đến 08 tù về tội “Hiếp dâm”; áp dụng Điều 55 của Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt đối với bị cáo Phan Tấn Đ.

Về xử lý vật chứng:

- 01 (một) giấy chứng minh nhân dân số 366179671, 01 (một) thẻ bảo hiểm y tế mã số DN4797916423349, 01 (một) giấy phép lái xe số 790189000392, 01 (một) thẻ công nhân Công ty Triplc Việt Nam số 15633, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã trả lại cho bị cáo Phan Tấn Đ (BL194-268).

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11 ProMax, m u vàng gold, 64GB, số Imei: 353887103974344; 01 (một) sim điện thoại di động mạng Vietnamobile, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, đã trả lại cho chị Trần Thị Kim N (BL228).

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11 ProMax, m u vàng gold, 64GB, số Imei: 353902102569811; 01 (một) sim điện thoại di động mạng Viettel, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, đã trả lại cho chị Nguyễn Trần KL (BL229).

- 01 (một) xe gắn máy hiệu Honda, loại Airblade, m u đỏ-đen-trắng, biển số 83C1 – 588.51, số máy JF63E2685483, số khung RLHJF6313KZ055759 l xe của bị cáo, là phương tiện dùng v o việc phạm tội, đề nghị Hội đ ng xét xử tịch thu sung vào N sách nh nước.

- Số tiền 900.000 đ ng của bị cáo không liên quan việc phạm tội, đề nghị Hội đ ng xét xử trả cho bị cáo.

- Số tiền 105.000 đ ng bị cáo đưa cho chị Trần Nguyễn Khánh L mua thuốc ngừa thai sau khi thực hiện h nh vi phạm tội đối với chị L, đề nghị Hội đ ng xét xử tịch thu sung v o N sách nh nước.

- 01 (một) con dao Thái Lan, cán v ng, lưỡi kim loại d i 21cm l công cụ dùng v o việc phạm tội, đề nghị Hội đ ng xét xử tịch thu, tiêu hủy.

- Các vật chứng g m: 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe môtô số 047616, 01 (một) bóp da nam m u nâu, 01 (một) quần lửng m u kem, 01 (một) quần Jean lửng m u đen, 01 (một) áo sơ mi d i tay m u đen, 01 (một) áo thun m u đen có chữ HOODBYAIR, 01 (một) khẩu trang y tế m u xanh, 01 (một) đôi dép m u đen có chữ DEEJ, 01 (một) áo khoác m u h ng có trùm đầu, 01 (một) quần Jean d i m u xanh dương, 01 (một) quần lót m u h ng, 01 (một) áo thun đen ngắn tay, 01 (một) áo ngực m u da người, 01 (một) đôi dép nhựa m u đen có quai, trên quai có dòng chữ “THE NORTH FACE” đề nghị Hội đ ng xét xử tịch thu, tiêu hủy.

- 01 (một) USB có chứa 03 đoạn video vụ việc ng y 22/8/2022, đề nghị Hội đ ng xét xử tiếp tục lưu h sơ vụ án.

Về dân sự: Chị Trần Thị Kim N yêu cầu b i thường số tiền 100.000.000 đ ng, chị Trần Nguyễn Khánh L yêu cầu b i thường số tiền 100.000.000 đ ng và Tô Thị Minh A1 yêu cầu b i thường số tiền 50.000.000 đ ng tổn thất về mặt tinh thần v danh dự. Tại phiên tòa, bị cáo đ ng ý b i thường cho các bị hại, đề nghị Hội đ ng xét xử buộc bị cáo b i thường cho các bị hại.

Bị cáo không tranh luận.

Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đ ng xét xử khoan h ng xử mức án nhẹ để bị cáo sớm về đo n tụ gia đình.

NHẬN ĐỊNH C A TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ v o các t i liệu trong h sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đ ng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa, bị cáo Phan Tấn Đ thừa nhận h nh vi phạm tội như nội dung Cáo trạng, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của chị Trần Nguyễn Khánh L và Tô Thị Minh A1, phù hợp với các chứng cứ có tại h sơ.

Bị cáo l người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đã thực hiện hành vi dùng dao Thái Lan đe dọa giết để giao cấu trái ý muốn với chị Trần Thị Kim N v chiếm đoạt của chị N 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax m u v ng gold trị giá 12.000.000 đ ng vào khoảng 19 giờ 00 phút ng y 01/8/2022, tại khu đất trống đoạn đường 107, ấp 11, xã T, huyện C, Th nh phố H. Đến khoảng 19 giờ 30 phút ng y 22/8/2022, tại khu đất trống đoạn đường hẻm trên đường Bến Than thuộc ấp 1, xã HP, huyện C, Th nh phố H, bị cáo dùng dao Thái Lan đe dọa, không chế chị Trần Nguyễn Khánh L và Tô Thị Minh A1 chiếm đoạt của chị L 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax màu vàng có ốp lưng, trị giá 12.010.000 đ ng v giao cấu trái ý muốn với chị L. Hội đ ng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Phan Tấn Đ phạm tội “Cướp t i sản” v “Hiếp dâm” theo Điều 168 v Điều 141 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

H nh vi bị cáo dùng dao Thái Lan đe dọa giết để chiếm đoạt điện thoại di động của chị N, bị cáo Phan Tấn Đ đã phạm tội “Cướp t i sản” theo điểm d khoản 2 Điều 168 của Bộ luật Hình sự.

H nh vi bị cáo dùng dao Thái Lan đe dọa, không chế chị Trần Nguyễn Khánh L và Tô Thị Minh A1 chiếm đoạt điện thoại di động của chị L, mặc dù bị cáo không chiếm đoạt t i sản gì của Minh A1 nhưng đã trực tiếp đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc đối với Minh A1 khi Minh A1 chưa đủ 14 tuổi, l trẻ em, bị cáo Phan Tấn Đ đã phạm tội “Cướp t i sản” theo điểm d và e khoản 2 Điều 168 của Bộ luật Hình sự. Hội đ ng xét xử xác định Tô Thị Minh A1 l bị hại.

Tại phiên tòa, bị cáo khai sau khi chiếm đoạt điện thoại di động của chị L, bị cáo đã thực hiện h nh vi giao cấu với chị L. Trước đó, bị cáo đã có lời nói buộc chị L và Minh A1 một trong hai người phải cởi đ ra nhưng thấy Minh A1 còn nhỏ nên bị cáo không thực hiện h nh vi giao cấu với Minh A1. Căn cứ Điều 16 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, bị cáo tự ý nửa chừng chấm đứt việc phạm tội hiếp dâm đối với Minh A1 nên bị cáo được miễn trách nhiệm hình sự về tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi theo Điều 142 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, Tô Thị Minh A1 phông phải l bị hại.

[2] H nh vi của bị cáo l nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quyền sở hữu về t i sản, xâm phạm sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo nhận thức được hành vi dùng dao đe dọa nhằm chiếm đoạt t i sản của người khác và hành vi dùng dao đe dọa giao cấu trái ý muốn với bị hại l vi phạm pháp luật nhưng chỉ vì muốn có tiền trả nợ và thõa mãn dục vọng bị cáo đã bất chấp. Hội đ ng xét xử nghĩ cần áp dụng hình phạt thật nghiêm khắc để cải tạo v giáo dục bị cáo trở th nh người tốt cho xã hội. Tuy nhiên, Hội đ ng xét xử xem xét t nh chất, mức độ nguy hiểm trong h nh vi v nhân thân của bị cáo để có mức hình phạt tương xứng.

Cùng một thời điểm, bị cáo liên tiếp phạm hai tội “Cướp t i sản” v “Hiếp dâm” đều l tội danh m mọi người dân khi nghe đều hoang mang, khiếp sợ, đều lên án v mong muốn xử bị cáo bằng bản án thật nghiêm minh. Đối với những bị hại, h nh vi của bị cáo đã gây ra là nỗi ám ảnh kinh ho ng v sẽ còn kéo d i rất lâu trong cuộc đời, ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống tương lai của họ m không có gì có thể bù đắp.

Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo có tình tiết tăng nặng là phạm tội 02 lần trở lên đối với tội “Cướp t i sản”. Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ l thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.

[3] Về dân sự: Chị Trần Thị Kim N yêu cầu b i thường số tiền 100.000.000 đ ng, chị Trần Nguyễn Khánh L yêu cầu b i thường số tiền 100.000.000 đ ng v Tô Thị Minh A1 yêu cầu b i thường số tiền 50.000.000 đ ng tổn thất về tinh thần, danh dự v nhân phẩm; tại phiên tòa, bị cáo đ ng ý b i thường đúng số tiền do các bị hại yêu cầu, Hội đ ng xét xử buộc bị cáo b i thường cho các bị hại số tiền tương ứng.

[4] Về xử lý vật chứng:

- 01 (một) giấy chứng minh nhân dân số 366179671, 01 (một) thẻ bảo hiểm y tế mã số DN4797916423349, 01 (một) giấy phép lái xe số 790189000392, 01 (một) thẻ công nhân Công ty Triplc Việt Nam số 15633, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã trả lại cho bị cáo, do b Nguyễn Thị Thúy P l vợ của bị cáo nhận thay (BL194-268) l phù hợp.

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11 ProMax, m u v ng gold, 64GB, số Imei 353887103974344; 01 (một) sim điện thoại di động mạng Vietnamobile, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, đã trả lại cho chị Trần Thị Kim N (BL228) l phù hợp.

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11 ProMax, m u v ng gold, 64GB, số Imei 353902102569811; 01 (một) sim điện thoại di động mạng Viettel, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, đã trả lại cho chị Nguyễn Trần KL (BL229) l phù hợp.

- 01 (một) xe gắn máy hiệu Honda, loại Airblade, m u đỏ-đen-trắng, biển số 83C1 – 588.51, số máy JF63E2685483, số khung RLHJF6313KZ055759 l xe của bị cáo, l phương tiện bị cáo dùng v o việc phạm tội, Hội đ ng xét xử quyết định tịch thu sung vào N sách nh nước.

- Số tiền 900.000 đ ng của bị cáo không liên quan việc phạm tội, Hội đ ng xét xử tạm giữ nhằm đảm bảo cho việc thi h nh án.

- Số tiền 105.000 đ ng bị cáo đưa cho chị Trần Nguyễn Khánh L mua thuốc ngừa thai sau khi thực hiện h nh vi phạm tội đối với chị L, có liên quan đến việc phạm tội nhưng không phải tiền bị cáo phạm tội m có, Hội đ ng xét xử tạm giữ nhằm đảm bảo cho việc thi h nh án.

- 01 (một) con dao Thái Lan, cán v ng, lưỡi kim loại d i 21cm l công cụ bị cáo dùng v o việc phạm tội, Hội đ ng xét xử quyết định tịch thu, tiêu hủy.

- Các vật chứng g m: 01 (một) bóp da nam m u nâu, 01 (một) quần lửng m u kem, 01 (một) quần Jean lửng m u đen, 01 (một) áo sơ mi d i tay m u đen, 01 (một) áo thun m u đen có chữ HOODBYAIR, 01 (một) khẩu trang y tế m u xanh, 01 (một) đôi dép m u đen có chữ DEEJ, 01 (một) áo khoác m u h ng có trùm đầu, 01 (một) quần Jean d i m u xanh dương, 01 (một) quần lót m u h ng, 01 (một) áo thun đen ngắn tay, 01 (một) áo ngực m u da người, 01 (một) đôi dép nhựa m u đen có quai, trên quai có dòng chữ “THE NORTH FACE” và 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe môtô, xe máy số 047616 của xe gắn máy biển số 83C1 – 588.51 do bị cáo đứng tên nêu trên, Hội đ ng xét xử quyết định tịch thu, tiêu hủy.

- 01 (một) USB có chứa 03 đoạn video vụ việc ng y 22/8/2022, Hội đ ng xét xử tiếp tục lưu h sơ vụ án l m chứng cứ.

Đối với điện thoại di động hiệu Iphone XS Max, m u gold của bị cáo, l phương tiện bị cáo dùng v o việc phạm tội đối với chị Trần Thị Kim N, quá trình điều tra v tại phiên tòa bị cáo khai đã bán nơi n o không nhớ, tiền bán điện thoại bị cáo đã tiêu x i hết, không thu h i được nên Hội đ ng xét xử không xử lý.

[5] Căn cứ v o khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định: “…Người bị kết án phải trả án ph theo quyết định của Tòa án…”, Hội đ ng xét xử buộc bị cáo phải nộp án ph hình sự sơ thẩm v án ph dân sự sơ thẩm.

[6] Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát như trên l phù hợp, tuy nhiên việc chưa xem xét tư cách bị hại của Tô Thị Minh A1 đối với h nh vi cướp t i sản của bị cáo dẫn đến chưa xem xét tình tiết định khung theo điểm e khoản 2 Điều 168 của Bộ luật Hình sự l chưa to n diện.

[7] Về h nh vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra v tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về h nh vi, quyết định của Cơ quan tiến h nh tố tụng, người tiến h nh tố tụng. Do đó, các h nh vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến h nh tố tụng, người tiến h nh tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Phan Tấn Đ phạm tội “Cướp t i sản” v tội “Hiếp dâm”.

- Căn cứ v o điểm d v e khoản 2 Điều 168, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Phan Tấn Đ 09 (ch n) năm tù về tội “Cướp t i sản”.

- Căn cứ v o khoản d khoản 2 Điều 141, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Phan Tấn Đ 07 (bảy) năm 06 (sáu) th ng tù về tội “Hiếp dâm”.

Căn cứ Điều 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Tổng hợp hình phạt của hai tội, bị cáo Phan Tấn Đ phải chấp h nh hình phạt chung là 16 (mười sáu) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp h nh hình phạt tù t nh từ ngày 24/8/2022.

- Căn cứ v o Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 357, Điều 468, Điều 584, Điều 592 của Bộ luật Dân sự năm 2015:

Buộc bị cáo Phan Tấn Đ có trách nhiệm: B i thường cho chị Trần Thị Kim N số tiền 100.000.000 (một trăm triệu) đ ng; b i thường cho chị Trần Nguyễn Khánh L số tiền 100.000.000 (một trăm triệu) đ ng v b i thường cho Tô Thị Minh A1 số tiền 50.000.000 (năm mươi triệu) đ ng.

Kể từ ng y chị Trần Thị Kim N, chị Trần Nguyễn Khánh L v Tô Thị Minh A1 có đơn yêu cầu thi h nh án nếu bị cáo chưa thi h nh trả số tiền nêu trên thì h ng tháng bị cáo còn phải trả cho chị N, chị L v Minh A1 tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; nếu không thỏa thuận thì thực hiện theo theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

- Căn cứ v o Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

+ Tịch thu sung v o N sách nh nước 01 (một) xe gắn máy hiệu Honda, loại Airblade, m u đỏ-đen-trắng, biển số 83C1 – 588.51, số máy JF63E2685483, số khung RLHJF6313KZ055759.

+ Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) con dao Thái Lan, cán v ng, lưỡi kim loại d i 21cm; 01 (một) bóp da nam m u nâu, 01 (một) quần lửng m u kem, 01 (một) quần Jean lửng m u đen, 01 (một) áo sơ mi d i tay m u đen, 01 (một) áo thun m u đen có chữ HOODBYAIR, 01 (một) khẩu trang y tế m u xanh, 01 (một) đôi dép m u đen có chữ DEEJ, 01 (một) áo khoác m u h ng có trùm đầu, 01 (một) quần Jean d i màu xanh dương, 01 (một) quần lót m u h ng, 01 (một) áo thun đen ngắn tay, 01 (một) áo ngực m u da người, 01 (một) đôi dép nhựa m u đen có quai, trên quai có dòng chữ “THE NORTH FACE” và 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe môtô, xe máy số 047616.

+ Tạm giữ của bị cáo Phan Tấn Đ số tiền 1.005.000 (một triệu không trăm lẻ năm nghìn) đ ng để đảm bảo cho việc thi h nh án.

+ 01 (một) USB có chứa 03 đoạn video vụ việc ng y 22/8/2022 tiếp tục lưu h sơ vụ án.

Các vật chứng nêu trên được liệt kê tại phiếu nhập kho vật chứng số 43/PNK ng y 14/3/2023, số 159/PNK-CSĐT-CSHS ngày 28/9/2022 và Lệnh nhập kho vật chứng số 43/LNK-CSĐT-CSHS ngày 14/3/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C (BL170,274,275).

- Căn cứ v o khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 v Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ng y 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý v sử dụng án ph v lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Phan Tấn Đ phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đ ng tiền án ph hình sự sơ thẩm v 12.500.000 (mười hai triệu năm trăm nghìn) đ ng tiền án ph dân sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại v người đại diện hợp pháp của Tô Thị Minh A1 có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ng y kể từ ng y tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ng y kể từ ng y nhận được bản án hoặc ng y bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi h nh theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi h nh án dân sự, người phải thi h nh án dân sự có quyền thỏa thuận thi h nh án, quyền yêu cầu thi h nh án, tự nguyện thi h nh án hoặc bị cưỡng chế thi h nh án theo quy định tại các Điều 6, 7 v 9 Luật Thi h nh án dân sự; thời hiệu thi h nh án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi h nh án dân sự.

Cỡ chữ