- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - bà Trần Thị Ánh N đối với bị đơn - ông Nguyễn Huy Tr về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
- Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số: 132/2023/HNGĐ-ST Ngày: 27 – 12 - 2023 V/v ly hôn, tranh chấp ngƣời nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Hoàng Trang
2. Ông Lê Văn Công
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Tấn – Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Bƣơng.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Năm – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 966/2023/TLST- HNGĐ ngày 05 tháng 10 năm 2023 về việc tranh chấp ly hôn, tranh chấp ngƣời nuôi con theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 140/2023/QĐST - HNGĐ ngày 28 tháng 11 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa 966/2023/QĐST-HNGĐngày 15 tháng 12 năm 2023, giữa các đƣơng sự:
Nguyên đơn: Bà Trần Thị Ánh N, sinh năm 1997; nơi đăng ký hộ khẩu thƣờng trú: 70/1B khu phố Trung, phƣờng Vĩnh Phú, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.
Bị đơn: Ông Nguyễn Huy Tr, sinh năm 1995; nơi đăng ký hộ khẩu thƣờng trú: 20 khu phố Đông Tƣ, phƣờng Lái Thiêu, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.
Các đƣơng sự đều có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Quá trình tố tụng và tại phiên tòa nguyên đơn – bà Trần Thị Ánh N trình bày:
Bà Nh và ông Tr tự nguyện tìm hiểu, đƣợc hai bên gia đình tổ chức lễ cƣới, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân phƣờng Lái Thiêu, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng vào ngày 25/02/2020, theo giấy chứng nhận kết hôn số 30/2020. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc đƣợc một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do ông Tr ham mê chơi game, trong thời gian bà Nh mang thai thì ông Tr không đi làm mà kiếm tiền, khi bà Nh sinh con thì ông Tr không phụ bà Nh chăm sóc con. Ngoài ra bà Nh phát hiện khi vừa kết hôn thì ông Tr thƣờng xuyên nhắn tin tình cảm với ngƣời phụ nữ khác. Ông Tr cho rằng bà Nh có quan hệ tình cảm với ngƣời đàn ông khác, nhƣng theo bà Nh trình bày thì ngƣời này là bạn thân của bà Nh. Hai vợ chồng thƣờng xuyên cãi vã, xảy ra xô xát, mặc dù đƣợc hai bên gia đình hòa giải đoàn tụ nhƣng không thành. Từ tháng 5/2023 thì ông Tr chuyển về nhà cha mẹ ruột tại phƣờng Lái Thiêu sống, vợ chồng không còn sống chung và quan tâm chăm sóc đến nhau nữa. Bà Nh xác định không còn yêu thƣơng ông Tr nhất quyết xin đƣợc ly hôn.
Tại phiên tòa ông Tr xuất trình 02 hình ảnh không phải của bà Nh mà do ông Tr ghép hình.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Trần Nguyễn An Nhiên, sinh ngày 09/6/2020, bà Nh yêu cầu đƣợc trực tiếp chăm sóc, nuôi dƣỡng và giáo dục cháu Nhiên vì hiện nay cháu Nhiên đang sống cùng với bà Nh, hơn nữa cháu Nhi là con gái cần đƣợc sự chăm sóc của mẹ. Từ ngày hai vợ chồng ly thân đến nay thì ông Tr không chu cấp tiền cho bà Nh nuôi con nhƣng bà Nh vẫn nuôi dƣỡng con đầy đủ. Hiện nay bà Nh đang làm công nhân mức lƣơng hàng tháng khoảng 6.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng đủ khả năng nuôi con. Ngoài ra bà Nh đƣợc mẹ ruột hỗ trợ chăm sóc cháu Nhiên và có nhà ở ổn định. Bà Nh trình bày không yên tâm khi giao cháu Nhiên cho ông Tr nuôi dƣỡng vì ông Tr không có nghề nghiệp ổn định, cháu Nhiên còn quá nhỏ cần đƣợc sự chăm sóc của ngƣời mẹ nên không đồng ý theo yêu cầu của ông Tr.
Về tài sản chung và nợ chung: Vợ chồng tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa bà Nh vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Tài liệu chứng cứ bà Nh giao nộp: Giấy đăng ký kết hôn (bản chính); trích lục khai sinh (bản sao); căn cước công dân bà Nh và ông Tr (bản sao); sao kê chi tiết giao dịch (bản chính).
Quá trình tố tụng bị đơn – ông Nguyễn Huy Tr trình bày:
Thống nhất theo lời trình bày của bà Nh về thời gian, điều kiện kết hôn. Về nguyên nhân mâu thuẫn không nhƣ bà Nh trình bày. Nguyên nhân mâu thuẫn do bà Nh đi chơi qua đêm với ngƣời đàn ông khác, tuy nhiên do mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng nên đồng ly hôn.
Về con chung: Trong quá trình chung sống vợ chồng có 01 ngƣời con chung tên Trần Nguyễn An Nhiên, sinh ngày 09/6/2020, hiện nay cháu đang sống cùng với bà Nh, ông Tr không đồng ý giao cháu Nhiên cho bà Nh trực tiếp nuôi dƣỡng vì bà Nh có quan hệ bất chính với ngƣời đàn ông khác nên cháu Nhiên sống cùng với bà Nh sẽ không tốt cho sự phát triển tâm sinh lý của cháu. Tại phiên tòa ông Tr cung cấp 02 hình ảnh cho rằng đƣợc sao chụp từ facbook của bà Nh đăng hình bà Nh đi chơi với ngƣời đàn ông tên Tùng Lâm.
Tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tài liệu chứng cứ ông Tr giao nộp: Hợp đồng lao động (bản chính).
Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trƣớc thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc, nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Nh đƣợc ly hôn với ông Tr, về con chung giao cháu Nhiên cho bà Nh trực tiếp chăm sóc, nuôi dƣỡng và giáo dục, về tài sản chung nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đƣợc thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng dân sự: Bà Nh khởi kiện ông Tr yêu cầu đƣợc ly hôn, tranh chấp nuôi con, ông Tr hiện đang trú tại phƣờng Lái Thiêu, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Thuận An thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Nh và ông Tr tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp. Xét thấy, các đƣơng sự thống nhất vợ chồng đã không còn sống chung từ tháng 5/2023 đến nay, vợ chồng không còn yêu thƣơng, chăm sóc lẫn nhau. Trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa các đƣơng sự thống nhất đƣợc ly hôn. Từ đó Hội đồng xét xử xác định quan hệ hôn nhân giữa nguyên đơn và bị đơn mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc. Căn cứ Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện ly hôn giữa các bên.
Về con chung: Xét thấy tháng 5/2023 hai vợ chồng ly thân thì cháu Nhiên do bà Nh trực tiếp nuôi dƣỡng, cháu Nhiên phát triển thể chất bình thƣờng mặc dù không cần sự hỗ trợ từ ông Tr. Về điều kiện kinh tế thì bà Nh có nhà ở và thu nhập ổn định, đang sống chung với mẹ ruột, hàng ngày bà Nh đi làm thì có mẹ ruột hỗ trợ chăm sóc cháu Nhi để bà Nh yên tâm làm việc tạo thu nhập nuôi con. Ngoài ra cháu Nhiên là con gái cần đƣợc sự chăm sóc của ngƣời mẹ. Xét thấy lời trình bày của bà Nh là phù hợp theo biên bản xác minh ngày 19/12/2023 của Tòa án tại ban điều hành khu phố Trung, phƣờng Vĩnh Phú. Ông Tr cho rằng bà Nh có quan hệ với ngƣời đàn ông khác nên không có tƣ cách nuôi con, xét thấy lời trình bày của ông Tr không có căn cứ vì không có chứng cứ chứng minh, ngoài ra ông Tr không chứng minh đƣợc ông có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không chấp nhận. Từ những phân tích nêu trên cần duy trì sự phát triển ổn định và điều kiện tốt nhất cho cháu Nhiên nên Hội đồng xé xử giao cháu Nhiên cho bà Nh nuôi dƣỡng là có cơ sở.
Về cấp dƣỡng nuôi con: Bà Nh tự nguyện không yêu cầu cấp dƣỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về tài sản chung, nợ chung không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở và phù hợp với quy định của pháp luật.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Khoản 1 Điều 28; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ Điều 51; Điều 56; Điều 57; Điều 81; Điều 82; Điều 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội khóa 14 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - bà Trần Thị Ánh N đối với bị đơn - ông Nguyễn Huy Tr về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Ánh N đƣợc ly hôn với ông Nguyễn Huy Tr.
- Về con chung: Giao con chung Nguyễn Trần An Nhiên, sinh ngày 09/6/2020 cho bà Trần Thị Ánh N đƣợc trực tiếp chăm sóc, nuôi dƣỡng và giáo dục. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Trần Thị Ánh N không yêu cầu ông Nguyễn Huy Tr phải cấp dƣỡng nuôi con.
Ngƣời không trực tiếp nuôi con có quyền thăm con, không ai đƣợc cản trở. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể thay đổi ngƣời trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dƣỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Về án phí: Bà Trần Thị Ánh N phải nộp 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, đƣợc khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0013121 ngày 28 tháng 9 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.
Nguyên đơn và bị đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND thành phố Thuận An; - Chi cục THADS thành phố Thuận An; - Các đƣơng sự; - Lƣu HS, VP. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Ngọc |