vanban.org

Bản án 132/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Nguyễn Sỹ Đ.

Về nuôi con chung: Giao con chung là Nguyễn Thị An N, sinh ngày 12/01/2021 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh Nguyễn Sỹ Đ. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn giữa chị H và anh Đ"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Nguyễn Sỹ Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH CHƯƠNG
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 132/2023/HNGĐ - ST
Ngày: 09/8/2023
V/v tranh chấp về ly hôn, nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Dũng

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Nga

Ông: Nguyễn Doãn Ước

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Thoả là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phương Thuỳ - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 8 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 88/2023/TLST- HNGĐ ngày 01 tháng 6 năm 2023 về tranh chấp về ly hôn và nuôi con theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 91/2023/QĐST- HNGĐ ngày 26/7/2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1989; Nơi ĐKHKTT:Xóm Q, xã G Xuân, huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An. Có mặt.

Bị đơn: Anh Nguyễn Sỹ Đ, sinh năm 1987; Nơi ĐKHKTT:Xóm Q, xã G, huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An.

Nơi đăng ký tạm trú và chỗ ở hiện nay: Xóm D, xã T, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt ( Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1961; địa chỉ: Xóm D, xã T, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. (Là mẹ đẻ anh Nguyễn Sỹ Đ).Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện; bản tự khai và lời trình bày tại phiên tòa nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày như sau:

Về hôn nhân: Chị với anh Nguyễn Sỹ Đ kết hôn dựa trên tinh thần tự nguyện và đăng ký kết hôn Ủy ban nhân dân xã Thanh Dương, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An vào ngày 25 tháng 10 năm 2013 .Sau khi kết hôn, chúng sống rất hạnh phúc với nhau, nhưng qua một thời gian chung sống vợ chồng chúng phát sinh mâu thuẫn trong cuộc sống, hai bên không có sự tin tưởng lẫn nhau. Hiện tại vợ chồng đã sống ly thân. Tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Sỹ Đ.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là: Nguyễn Thị An N, sinh ngày 12/01/2021. Chị Nguyễn Thị H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con và không yêu cầu anh Nguyễn Sỹ Đ cấp dưỡng nuôi con.

Về chia tài sản và nợ: Chị Nguyễn Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ý kiến bị đơn anh Nguyễn Sỹ Đ: Tại bản tự khai và đơn đề nghị xét xử vắng mặt anh Nguyễn Sỹ Đ có ý kiến:

Về hôn nhân: Anh Nguyễn Sỹ Đ đồng ý ly hôn với chị Nguyễn Thị H.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là: Nguyễn Thị An Nhiên, sinh ngày 12/01/2021. Anh Nguyễn Sỹ Đ đồng ý giao con cho chị Nguyễn Thị H được trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Nguyễn Sỹ Đ xin tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Về chia tài sản và nợ: Anh Nguyễn Sỹ Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bà Nguyễn Thị N là người đại diện hợp pháp của bị đơn đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng bà không đến Toà án làm việc theo Giấy triệu tập và Thông báo của Toà án: Kết quả xác minh ngày 23/6/2023 thì bà Nguyễn Thị N cho biết như sau: Bà đã nhận được Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải và Công văn của Toà án yêu cầu tham gia tố tụng trong vụ án, nhưng bà không tham gia phiên họp được bà xin vắng mặt và có ý kiến:

Về hôn nhân: Việc ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Sỹ Đ là do hai vợ chồng tự quyết định, bà không tham gia vào việc riêng của các con.

Anh Nguyễn Sỹ Đ con trai bà nay đã khỏi bệnh nên bà không yêu cầu Toà án giải quyết tuyên bố anh Nguyễn Sỹ Đ mất năng lực hành vi dân sự; hạn chế năng lực hành vị dân sự; người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Bà đề nghị Toà án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật, bà xin vắng mặt tại phiên họp, phiên toà.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân theo đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điều 28, Điều 35, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81,Điều 82,Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Nguyễn Sỹ Đ

Về nuôi con chung: Giao con chung là Nguyễn Thị An Nhiên, sinh ngày 12/01/2021 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh Nguyễn Sỹ Đ.

Về chia tài sản và nợ: Đương sự không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Về tố tụng: Bị đơn anh Nguyễn Sỹ Đ là người bị bệnh tâm thần, là người có nhược điểm về tâm thần thuộc trường hợp có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi được quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự thuộc trường hợp Viện kiểm sát phải tham gia phiên tòa sơ thẩm. Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã thông báo cho Viện kiểm sát cử kiểm sát viên tham gia phiên tòa sơ thẩm.

Toà án đã có văn bản yêu cầu bà Nguyễn Thị N là mẹ đẻ của làm người đại diện hợp pháp tham gia tố tụng. Kết quả xác minh bà Nguyễn Thị N cho rằng con trai bà là Nguyễn Sỹ Đ nay đã khỏi bệnh nên bà không yêu cầu Toà án giải quyết tuyên bố anh Nguyễn Sỹ Đ mất năng lực hành vi dân sự; hạn chế năng lực hành vị dân sự; người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, bà đề nghị Toà án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật, do đó Toà án vẫn tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục chung theo hướng dân tại giải đáp số 01/2017/GĐ- TANDTC ngày 07/4/2027 của Toà án nhân dân Tối cao.

Tại phiên tòa bị đơn vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; người đại diện hợp pháp bị đơn vắng mặt nhưng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai do đó Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 228, pđiểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Xét thấy quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Sỹ Đ là hợp pháp, được xác lập trên cở sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Thanh Dương, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An vào ngày 25 tháng 10 năm 2013. Sau kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được thời gian đầu, sau đó thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không hợp. Chị Nguyễn Thị H xin ly hôn thì anh Nguyễn Sỹ Đ đồng ý. Hội đồng xét xử xét thấy về quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Sỹ Đ chỉ tồn tại về mặt hình thức, thực chất tình trạng hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, do đó chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H, xử cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Sỹ Đ là đúng với khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về nuôi con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Thị An N, sinh ngày 12/01/2021. Chị Nguyễn Thị H yêu cầu được nuôi con và không yêu cầu anh Nguyễn Sỹ Đ cấp dưỡng nuôi con. Ý kiến anh Nguyễn Sỹ Đ đồng ý giao con cho chị Nguyễn Thị H được trực tiếp nuôi dưỡng, anh xin tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy sự thoả thuận của đương sự về việc nuôi con là đúng pháp luật, không trái đạo đức xã hội, đảm bảo pđược quyền lợi mọi mặt của con, đúng với quy định tại các Điều 81,82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình nên chấp nhận.

Về chia tài sản và nợ: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Xét thấy ý kiến phát biểu tại phiên tòa của đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán; Hội đồng xét xử; Thư ký phiên tòa; những người tham gia tố tụng và việc đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng pháp luật để giải quyết nội dung vụ án là có căn cứ, đúng pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án xử:

Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Nguyễn Sỹ Đ.

Về nuôi con chung: Giao con chung là Nguyễn Thị An N, sinh ngày 12/01/2021 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh Nguyễn Sỹ Đ.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người yêu cầu thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự.

Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án

Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 (Ba trăm ngàn)đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng(Ba trăm ngàn) theo biên lai số 0009509 ngày 01/6/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.

Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Bị đơn; người đại diện hợp pháp của bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ