vanban.org

Bản án 132/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND huyện Đức Hòa, tỉnh Long An Tuyên án 21/08/2023 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đoàn Thị Bạch H về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, yêu cầu văn bản công chứng vô hiệu, hủy quyết định hành chính” đối với bị đơn ông Lê Văn P.

Tuyên bố hợp đồng sau đây vô hiệu: Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 397, tờ bản đồ số 5, diện tích 1.342m2, đất tại ấp Rừng Sến, xã M, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An được ký giữa bà Đoàn Thị Bạch H với ông Lê Văn P theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 8668, quyển… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Đoàn Thị Bạch H tranh chấp Lê Văn P"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đoàn Thị Bạch H về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, yêu cầu văn bản công chứng vô hiệu, hủy quyết định hành chính” đối với bị đơn ông Lê Văn P.
  • Căn cứ chính? Điều 124 Bộ luật Dân sự; Điều 100 Luật Đất đai; Điều 123 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỨC HÒA
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 132/2023/DS - ST
Ngày: 21 - 8 - 2023
V/v “tranh chấp hợp đồng CNQSD
đất, yêu cầu tuyên bố văn bản công
chứng vô hiệu và hủy quyết định cá
biệt”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Cương.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Thị Đổi.

2. Ông La Văn Việt.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lệ Quân - là thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lê Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 532/2022/TLST-DS, ngày 12 tháng 10 năm 2022 về “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu và hủy quyết định cá biệt” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 193/2023/QĐXX-ST ngày 26 tháng 6 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 204/2023/QĐST-DS ngày 24 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Đoàn Thị Bạch H, sinh năm 1990.

Địa chỉ: Ấp Rừng Sến, xã M, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

Bị đơn:

1. Ông Lê Văn P, sinh năm 1974.

Địa chỉ: Ấp T, xã P, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.

2. Công ty TNHH vận chuyển Vật liệu xây dựng Toàn T.

Địa chỉ: Ấp T, xã Hòa Khánh Tây, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Quốc Sự - Giám đốc.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Văn phòng công chứng Trần Hữu Thành.

Địa chỉ: Ấp Chánh, xã Đức Lập Hạ, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Hữu Thành – Trưởng Văn phòng.

2. Ông Hồ Văn P, sinh năm 1985.

Địa chỉ: Ấp Bù Đốp, xã Nghĩa T, huyện Đak R’Lấp, tỉnh Đak Nông.

3. Ông Đoàn Văn Nhân, sinh năm 1992.

Địa chỉ: Xã Đức Hòa Thượng, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

4. Bà Cao Thị Diễm. sinh năm 1993.

Địa chỉ: Xã Thạnh Trị, thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An.

(Bà H, ông P, Văn phòng công chứng, ông Nhân và bà Diễm có đơn xin vắng mặt; các đương sự còn lại vắng mặt không rõ lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện; trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Đoàn Thị Bạch H trình bày:

Bà đang kẹt tiền, thông qua sự giới thiệu của người quen, thì ngày 21/9/2022, bà vay của Công ty TNHH vận chuyển VLXD Toàn T do ông Nguyễn Quốc Sự là người đại diện cho công ty với số tiền 150.000.000đồng, thỏa thuận 02 năm trả (kể từ ngày vay) thì bà sẽ trả hết số tiền vay, lãi suất 1%. Theo đó, bà phải đưa tài sản thế chấp là thửa đất số 397, tờ bản đồ số 7, diện tích 1.342m2, đất tại xã M, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An cho ông Lê Văn P (theo sự chỉ định của ông Nguyễn Quốc Sự). Bà đồng ý ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất nêu trên cho ông P. Theo đó có giấy mượn tiền ngày 21/9/2022 và phụ lục hợp đồng ngày 21/9/2022 kèm theo.

Trên đất có 03 căn nhà đã xây dựng kiên cố, có người đang ở. Bà đã nhận đủ số tiền vay từ Công ty TNHH vận chuyển VLXD Toàn T do ông Nguyễn Quốc Sự là người đại diện.

Sau đó, bà có liên hệ nhiều lần để trả lại tiền cho ông Sự, ông P nhưng không liên hệ được.

Nay bà yêu cầu Tòa án giải quyết:

Vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Đoàn Thị Bạch H với ông Lê Văn P ngày 21/9/2022 tại Văn phòng công chứng Trần Hữu Thành.

Bà đồng ý trả lại cho Công ty TNHH vận chuyện VLXD Toàn T do ông Nguyễn Quốc Sự là người đại diện số tiền 150.000.000đồng và lãi suất 1% tính từ ngày 21/9/2022 cho đến nay, tạm tính tổng số tiền gốc và lãi bà phải trả cho Công ty tổng cộng là 151.500.000đồng.

Ngày 11/8/2023, bà H có đơn khởi kiện bổ sung, theo đó bà yêu cầu hủy chỉnh lý biến động đối với thửa đất số 397, tờ bản đồ số 5, đất tại ấp Rừng Sến, xã M, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An do ông Lê Văn P đứng tên quyền sử dụng đất để bà được liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Riêng đối với số tiền vay của Công ty TNHH vận chuyển VLXD Toàn T do ông Nguyễn Quốc Sự không yêu cầu nên bà không yêu cầu giải quyết, nếu có tranh chấp thì bà sẽ khởi kiện trong một vụ án khác.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Hồ Văn P trình bày trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án và tại phiên tòa: Ông là chồng của bà Đoàn Thị Bạch H. Ông thống nhất theo lời trình bày của bà H. Ông không trình bày gì thêm.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Đoàn Văn Nhân trình bày: Vào tháng 02 năm 2020, bà Đoàn Thị Bạch H là cô út của ông có cho ông và vợ là bà Cao Thị Diễm cất tạm 01 căn nhà trên thửa đất số 397, tờ bản đồ số 5, đất tại ấp Rừng Sến, xã M, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An để ở. Hiện nay, bà H tranh chấp ở Tòa, ông không có ý kiến gì khác.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Cao Thị Diễm trình bày: Bà là vợ của ông Đoàn Văn Nhân, bà thống nhất theo lời trình bày của ông Nhân, bà không có ý kiến gì khác.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Văn phòng công chứng Trần Hữu Thành có văn bản trình bày:

Vào ngày 21/9/2022, Văn phòng công chứng Trần Hữu Thành có ký hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ, số chuyển nhượng 8668, quyển số 09/2022TP/CC-SCC/HĐGD giữa bà Đoàn Thị Bạch H với ông Lê Văn P về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất số CV 701225, số vào sổ CS 12598 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Long An cấp ngày 01/7/2020 đối với thửa đất số 397, tờ bản đồ số 5, đất tại ấp Rừng Sến, xã M, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An. Từ lúc tiếp nhận hồ sơ, xử lý hồ sơ đến việc ký vào Hợp đồng chuyển nhượng, Văn phòng công chứng đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục, trách nhiệm, nghĩa vụ của công chứng viên theo đúng quy định của Luật công chứng và các quy định khác của pháp luật.

Do bận công việc nên Văn phòng công chứng xin vắng mặt trong tất cả các phiên hòa giải, công khai chứng cứ và xét xử của Tòa án.

Các đương sự đều thống nhất theo Mảnh trích đo địa chính số 287-2023 do Công ty trách nhiệm hữu hạn đo đạc nhà đất Trung Nghĩa lập ngày 18/4/2023, được Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đức Hòa phê duyệt ngày 08/5/2023 và kết quả định giá tại Chứng thư thẩm định giá số 190/30/05/2023/TĐG LA – BĐS ngày 30/5/2023 của Công ty cổ phần thương mại dịch vụ và tư vấn Hồng Đức, không yêu cầu đo vẽ hay định giá lại.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Từ khi vụ án được thụ lý đến khi xét xử Thẩm phán, Thư ký, người tiến hành tố tụng tại phiên tòa thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Người tham gia tố tụng thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Ngày 21/9/2022, giữa bà Đoàn Thị Bạch H và ông Lê Văn P có ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (không có tài sản) đối với thửa đất số 397, tờ bản đồ số 5, đất tại ấp Rừng Sến, xã M, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An, tuy nhiên, hợp đồng này để che giấu hợp đồng vay (phụ lục hợp đồng và giấy mượn tiền cùng ngày 21/9/2022 giữa bà Đoàn Thị Bạch H với Công ty TNHH Đầu tư Xây dựng Toàn T do ông Nguyễn Quốc Sự là người đại diện). Như vậy, mặc dù giữa bà H và ông P không có hợp đồng vay tiền nhưng bà H trình bày, thông qua sự yêu cầu của ông Sự thì bà mới biết và ký hợp đồng chuyển nhượng với ông P. Mặc dù ông P và Công ty TNHH Đầu tư Xây dựng Toàn T đã được tống đạt tất cả các văn bản pháp luật hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt và không có văn bản phản hồi. Như vậy, có đủ cơ sở khẳng định, hợp đồng chuyển nhượng giữa bà H và ông P nhằm mục đích che giấu hợp đồng vay tiền. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của bà H là có căn cứ nên đề nghị HĐXX chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định như sau:

Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết vụ án:

Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu tuyên bố vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, có đối tượng là thửa đất số thửa đất số 397, tờ bản đồ số 5, đất tại ấp Rừng Sến, xã M, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An nên Tòa án xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu, hủy quyết định hành chính”. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS).

Về thủ tục tố tụng:

Nguyên đơn là bà Đoàn Thị Bạch H có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải nên căn cứ vào Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) thì vụ án trên thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được. Do đó, Tòa án chỉ tiến hành kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và không tiến hành hòa giải.

Về xét xử vắng mặt đương sự: Nguyên đơn, bị đơn, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt hoặc được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự này theo quy định tại Điều 227, 228 BLTTDS.

Về xác định người tham gia tố tụng trong vụ án: Tại Công văn số 199/CN.VPĐKĐĐ – HCTH ngày 01/02/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đức Hòa thì xác nhận việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số thửa đất số 397, tờ bản đồ số 5, đất tại ấp Rừng Sến, xã M, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An cho ông Lê Văn P dựa trên các giao dịch dân sự có hiệu lực nên Tòa án không đưa Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Long An tham gia tố tụng trong vụ án theo quy định tại điểm 2. Mục II của Công văn số 64/TANDTC-PC ngày 03 tháng 4 năm 2019 của Tòa án nhân dân tối cao.

Về nội dung

Về yêu cầu tuyên bố vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 8668, quyển số 09/2022TP/CC-SCC/HĐGD ngày 21/9/2022 giữa bà Đoàn Thị Bạch H với ông Lê Văn P:

Tài liệu, chứng cứ nguyên đơn cung cấp cho Tòa án là phụ lục hợp đồng ngày 21/9/2022 và giấy mượn tiền cùng ngày 21/9/2022, nội dung thể hiện, bà H vay của Công ty TNHH Đầu tư Xây dựng Toàn T (do ông Nguyễn Quốc Sự là người đại diện) số tiền 150.000.000 đồng, lãi suất 1,0%/tháng, có ra ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông P (do ông Sự yêu cầu) đối với thửa đất số 397, tờ bản đồ số 5, đất tại ấp Rừng Sến, xã M, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An. Trong quá trình làm việc, mặc dù ông Sự và Công ty TNHH Đầu tư Xây dựng Toàn T được tống đạt các văn bản tố tụng theo đúng quy định pháp luật nhưng ông P và Công ty vẫn không có ý kiến phản hồi. Từ đó, có căn cứ xác định, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà H và ông P là giả tạo, nhằm che giấu hợp đồng vay tài sản. Căn cứ khoản 1 Điều 124 Bộ luật dân sự (BLDS) thì hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà H và ông P vô hiệu.

Về giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu:

Mặc dù, ông P và Công ty TNHH Đầu tư Xây dựng Toàn T đã được tống đạt các văn bản pháp luật hợp lệ nhưng vẫn không có ý kiến phản hồi nên không đề cập, xem xét đến. Nếu sau này, ông P và Công ty TNHH Đầu tư Xây dựng Toàn T có tranh chấp về số tiền cho bà H vay thì sẽ khởi kiện trong một vụ án khác.

Về yêu cầu hủy chỉnh lý biến động quyền sử dụng đất:

Nguyên đơn yêu cầu hủy chỉnh lý biến động của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Đức Hòa được điều chỉnh cho ông Lê Văn P ngày 29/9/2022 đối với thửa đất số 397, tờ bản đồ số 5, đất tại ấp Rừng Sến, xã M, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An. Tại Công văn số 199/VPĐKĐĐ - HCTH ngày 01/02/2023 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Long An xác nhận việc chỉnh lý biến động trên giấy CNQSD đất nêu trên cho ông P dựa trên các giao dịch dân sự có hiệu lực.

Căn cứ hướng dẫn tại điểm 2. Mục II của Công văn số 64/TANDTC-PC ngày 03/4/2019 của Tòa án nhân dân tối cao; HĐXX không tuyên hủy giấy chứng nhận cấp cho người nhận chuyển nhượng mà cho quyền để đương sự được kê khai đăng ký để được quyền cấp lại giấy CNQSD đất, điều chỉnh lại giấy CNQSD đất đã được cấp. Cơ quan Tài nguyên và Môi trường căn cứ vào bản án, quyết định của Tòa án để điều chỉnh biến động hoặc cấp lại Giấy chứng nhận QSDĐ phù hợp với kết quả giải quyết của Tòa án.

Từ những phân tích trên, HĐXX chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Bạch H.

Về chi phí tố tụng: Tổng cộng là 26.500.000đồng (chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 2.000.000đồng; chi phí đo vẽ là 15.000.000đồng, chi phí định giá là 9.500.000đồng), ông P phải chịu toàn bộ. Bà H đã nộp và chi xong, ông P có nghĩa vụ trả lại bà H số tiền này.

Về án phí: Ông P phải chịu án phí không có giá ngạch đối với việc tuyên vô hiệu hợp đồng CNQSD đất giữa bà H và ông P là 300.000 đồng.

Hoàn lại cho bà Huyền số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 35, Điều 39, Điều 184, Điều 186, Điều 271, Điều 273, Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 123, 124, 130, 131, 408, 357, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 100, 166 Luật Đất đai năm 2013;

Căn cứ Điều 26; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đoàn Thị Bạch H về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, yêu cầu văn bản công chứng vô hiệu, hủy quyết định hành chính” đối với bị đơn ông Lê Văn P.

2. Tuyên bố hợp đồng sau đây vô hiệu: Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 397, tờ bản đồ số 5, diện tích 1.342m2, đất tại ấp Rừng Sến, xã M, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An được ký giữa bà Đoàn Thị Bạch H với ông Lê Văn P theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 8668, quyển số 09/2022TP/CC-SCC/HĐGD ngày 21/9/2022 tại Văn phòng công chứng Trần Hữu Thành.

3. Bà Đoàn Thị Bạch H được quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để lập thủ tục kê khai, đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp đối với phần đất thuộc thửa đất số 397, tờ bản đồ số 5, diện tích 1.342m2, đất tại ấp Rừng Sến, xã M, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An (hiện phần đất này do bà Đoàn Thị Bạch H quản lý và sử dụng); vị trí tứ cận như sau:

Đông giáp: Thửa số 216;

Tây giáp: đường đá xanh;

Nam giáp: thửa số 397 (pcl);

Bắc giáp: Thửa số 296.

(Theo Mảnh trích đo địa chính số 287-2023 do Công ty trách nhiệm hữu hạn đo đạc nhà đất Trung Nghĩa lập ngày 18/4/2023 được Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đức Hòa phê duyệt ngày 08/5/2023)

Người được thi hành án và người phải thi hành án có trách nhiệm liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để lập thủ tục kê khai, đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp (hoặc một phần diện tích trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp).

Trường hợp bên phải thi hành án không giao nộp bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bên được thi hành án được quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền điều chỉnh, thu hồi, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp (hoặc một phần diện tích trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp).

4. Về giải quyết hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu;

Ông Lê Văn P và Công ty TNHH Đầu tư Xây dựng Toàn T không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu nên HĐXX không đề cập, xem xét đến. Nếu có tranh chấp thì sẽ khởi kiện trong một vụ án khác.

5. Về chi phí tố tụng: Ông Lê Văn P có nghĩa vụ trả cho bà Đoàn Thị Bạch H số tiền 26.500.000đồng (Hai mươi sáu triệu, năm trăm ngàn đồng chẳn).

Khi án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, bên có nghĩa vụ chậm thi hành sẽ phải chịu thêm khoản tiền lãi tính trên số tiền chậm trả theo quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

6. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Lê Văn P phải chịu án 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, sung công quỹ nhà nước.

Hoàn lại cho bà Đoàn Thị Bạch H phải chịu án phí 300.000đồng đã nộp theo biên lai thu số 000179 ngày 07/10/2022 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Đức Hòa.

7. Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai, đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

8. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ