vanban.org

Bản án 132/2022/HSST — Hình sự

TAND Q. Thanh Khê, TP Đà Nẵng Tuyên án 10/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ. Thời gian cải tạo không giam giữ được tính kể từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án. Giao bị cáo Nguyễn Văn T cho Ủy ban nhân dân phường H, quận C, thành phố Đà Nẵ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T - phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức (điều 341 Luậ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 341 Bộ luật Hình sự; Điều 36 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN THANH KHÊ - TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 132/2022/HSST
Ngày: 10 - 11 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ - TP ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệp

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Duy Thảo - Cán bộ giáo dục hưu trí

Ông Phạm Thuận - Cán bộ hưu trí

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Phan Khánh Vi - Thư ký Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Bách - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 114/2022/TLST-HS ngày 14 tháng 10 năm 2022 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn T, tên gọi khác: Không, sinh ngày 10/8/1993, tại Đà Nẵng; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Tổ X, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Nghề nghiệp: Lao động phổ thông. Trình độ học vấn: 7/12. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Không rõ và bà Nguyễn Thị T (SN 1964). Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai 02; Vợ: Nguyễn Thị Thùy D (SN 1996), có 01 con (SN 2019).

Tiền án, tiền sự: Chưa.

Bị cáo hiện đang chấp hành Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Nguyễn Thị Kim D, sinh năm: 1981, nơi cư trú: Tổ X1, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có nhu cầu đi lại bằng xe mô tô nhưng chưa có giấy phép lái xe hạng A1 và muốn đối phó với cơ quan chức năng khi bị kiểm tra nên khoảng 09 giờ ngày 29/3/2022, Nguyễn Văn T lên mạng xã hội liên hệ với đối tượng (không rõ nhân thân, lai lịch) cung cấp hình ảnh và thông tin cá nhân đặt làm 01 giấy phép lái xe giả. Đến ngày 06/4/2022, T nhận được bằng lái xe hạng A1 và cất giữ trong người.

Khoảng 21 giờ ngày 18/5/2022, khi T đang điều khiển xe mô tô hiệu Honda Wave @ màu xanh, chạy trên đường H, phường T, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng trong tình trạng xe không gắn biển kiểm soát, không có gương chiếu hậu bên trái nên Tổ công tác 911 Công an TP. Đà Nẵng đã yêu cầu dừng xe và tiến hành kiểm tra hành chính thì phát hiện T điều khiển xe mô tô sử dụng giấy phép lái xe không do cơ quan có thẩm quyền cấp, không có giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe, không mang theo giấy chứng nhận đăng ký xe môtô.

Tại Bản kết luận giám định số 77/KLTL-KTHS ngày 06/7/2022 của Phòng Kĩ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng kết luận: Giấy phép lái xe hạng A1, số 480220007268, mang tên Nguyễn Văn T, ký hiệu A là giả.

Qua xác minh, Sở Giao thông vận tải thành phố Đà Nẵng trả lời tính đến ngày 07/7/2022 thì Sở Giao thông vận tải thành phố Đà Nẵng không cấp Giấy phép lái xe hạng A1 cho trường hợp nào mang tên Nguyễn Văn T, sinh ngày 10/8/1993, số CMND: 201629266.

* Tại Cáo trạng số 114/CT-VKS ngày 12 tháng 10 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng giữ nguyên Cáo trạng đã truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội "Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức" theo khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự.

- Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ từ 06 tháng đến 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 24 tháng.

- Về xử lý vật chứng:

+ 01 giấy phép lái xe số 480220007268 mang tên Nguyễn Văn T do Sở giao thông vận tải thành phố Đà Nẵng cấp ngày 04/4/2022: Đây là vật chứng của vụ án đề nghị HĐXX quy trữ theo hồ sơ vụ án.

+ 01 xe mô tô hiệu Honda Wave @ màu xanh, không gắn biển kiểm soát. Qua điều tra xác định xe này có biển kiểm soát là 43G1-170.82 do chị Nguyễn Thị Kim D đứng tên chủ sở hữu. Năm 2019, chị D đã tặng cho xe cho Nguyễn Văn T. Ngày 27/5/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Thanh Khê đã trả chiếc xe mô tô trên cho Nguyễn Văn T là có cơ sở.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, quá trình xét hỏi bị cáo T thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội đúng với nội dung Cáo trạng đã truy tố.

Bị cáo nói lời sau cùng: Đã nhận thức rõ hành vi phạm tội của mình, có thái độ ăn năn hối cải và mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất để bị cáo được làm ăn lương thiện.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về xác định tội phạm:

Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn T tại phiên tòa đúng như bản Cáo trạng đã truy tố; lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với thời gian, địa điểm xảy ra tội phạm và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định:

Ngày 29/3/2022, Nguyễn Văn T cung cấp thông tin cá nhân cho đối tượng (không rõ nhân thân lai lịch) trên mạng xã hội và đặt làm tài liệu giả giấy phép lái xe hạng A1 nhằm đối phó với các cơ quan chức năng khi bị kiểm tra. Đến khoảng 21 giờ ngày 18/5/2022 tại ngã ba Hải Phòng - Hoàng Hoa Thám, phường Tân Chính, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng, T điều khiển xe hiệu Honda Wave @ màu xanh, không gắn biển kiểm soát thì bị Tổ công tác 911 Công an thành phố Đà Nẵng kiểm tra hành chính phát hiện T đã sử dụng giấy phép lái xe giả hạng A1 số 480220007268 do Sở giao thông vận tải thành phố Đà Nẵng cấp ngày 04/4/2022 để xuất trình cho cơ quan chức năng. Hành vi của bị cáo T đã phạm tội "Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức" theo khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự như Bản cáo trạng số 114/CT-VKS ngày 12 tháng 10 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét tính chất vụ án và hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo T là đã xâm phạm đến hoạt động bình thường của các tổ chức, cơ quan Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính được pháp luật bảo vệ; bị cáo không cần phải học tập, thi theo quy định của pháp luật mà có giấy phép lái xe nên cần có mức án tương xứng với hành vi phạm tội để cải tạo, giáo dục và răn đe phòng ngừa chung trong xã hội.

Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ của bị cáo thì thấy: Bị cáo Nguyễn Văn T chưa có tiền án, tiền sự; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo thực hiện hành vi phạm tôi để có giấy phép lái xe hạng A1 cho chính mình khi tham gia giao thông; quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết quy định tại điểm điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và không có tình tiết tăng nặng nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Nguyễn Văn T có hành vi điều khiển xe trong tình trạng không gắn biển số, không có gương chiếu hậu bên trái người điều khiển, không có giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới còn hiệu lực, không mang theo giấy chứng nhận đăng ký xe nên Công an quận Thanh Khê đã ra Quyết định xử phạt hành chính số 1278/QĐ-XPHC ngày 29/7/2022.

Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà để bị cáo tự cải tạo, giáo dục mình tại xã, phường cũng đủ giáo dục, răn đe phòng ngừa chung.

Về xử lý vật chứng:

+ Đối với 01 Giấy phép lái xe số 480220007268 mang tên Nguyễn Văn T do Sở giao thông vận tải thành phố Đà Nẵng cấp ngày 04/4/2022: Đây là vật chứng của vụ án nên HĐXX quy trữ theo hồ sơ vụ án.

+ Đối với 01 xe mô tô hiệu Honda Wave @ màu xanh, không gắn biển kiểm soát: Qua điều tra xác định xe này có biển kiểm soát là 43G1-170.82 do chị Nguyễn Thị Kim D đứng tên chủ sở hữu; năm 2019, chị D đã tặng cho xe cho Nguyễn Văn T. Ngày 27/5/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Thanh Khê đã trả chiếc xe mô tô trên cho Nguyễn Văn T là có cơ sở.

Trong vụ án có đối tượng (không rõ nhân thân, lai lịch) đã làm giả giấy phép lái xe hạng A1 cho T, quá trình điều tra vẫn chưa xác định được, Cơ quan CSĐT Công an quận Thanh Khê tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau là có cơ sở.

Về án phí: Bị cáo T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Theo những nhận định như trên Hội đồng xét xử chấp nhận một phần đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”.

Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ. Thời gian cải tạo không giam giữ được tính kể từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án.

Giao bị cáo Nguyễn Văn T cho Ủy ban nhân dân phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng để giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

2. Về án phí: Áp dụng Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án:

Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về thời hạn kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ngày 10.11.2022. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 02 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ