vanban.org

Bản án 132/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang Tuyên án 29/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Viễn D phạm tội: “Trộm cắp tài sản”;

Xử phạt bị cáo Trần Viễn D 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam 03/8/2022. Bị cáo Trần Viễn D phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án số: 132/2022/HS-ST - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Viễn D phạm tội: “Trộm cắp tài sản”;
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ T
TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 132/2022/HS-ST
Ngày 21/11/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

--------------

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T, TỈNH TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vương Thị Lan.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lê Thị Thảo

2. Bà Lý Thị Nhân

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Hoàng Tân – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Tuyên Quang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 11 năm 2022, tại Toà án nhân dân thành phố T, tỉnh Tuyên Quang, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 119/2022/TLST-HS, ngày 07/10/2022, đối với bị cáo:

Trần Viễn D, sinh năm 1996; Giới tính: Nam.

- Nơi ĐKHKTT: Tổ dân phố 12, phường A, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Trần Văn T, sinh năm 1967 và bà Trương Thị H, sinh năm 1968 (đã chết); Anh, chị, em ruột: Có 02 người, bị cáo là thứ nhất; Vợ, con: Không;

- Tiền án: Ngày 29/4/2021, Tòa án nhân dân thành phố T xử phạt Trần Viễn D 08 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản (Bản án số 112/2021/HSST).

- Tiền sự, nhân thân: Không.

* Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 03/8/2022, hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Tuyên Quang. Có mặt.

* Bị hại: Bệnh viện đa khoa T

Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Quang T, chức vụ: Giám đốc

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phan Huy B, chức danh: Kỹ Sư tin học, Phòng Công nghệ thông tin, Bệnh viện đa khoa T. Có mặt.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Thanh T, sinh năm 1985; Địa chỉ: Tổ dân phố 7, phường P, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 24/7/2022 Trần Viễn D, cư trú tại tổ dân phố 12, phường A, thành phố T có 01 tiền án về tội trộm cắp tài sản một mình đi bộ từ đường Đại lộ Tân Trào, thành phố T đến Bệnh viện đa khoa T, địa chỉ tổ dân phố 17, phường Tân Hà, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang mục đích để trộm cắp tài sản bán lấy tiền chi tiêu cá nhân.

Khi đến bệnh viện, D đi bộ vào bên trong dãy nhà A rồi đi bộ lên tầng 02 nhưng thấy các phòng làm việc đều khóa cửa, D đi bộ lên tầng 03 thấy phòng “PA319” không khóa cửa, bóng điện trong phòng tắt, không có người trong phòng. Tại đây, do có ánh điện ở hành lang tầng 03 chiếu vào, D thấy trong phòng có nhiều máy in và 01 bộ máy tính để ở trên bàn phía bên trái cửa ra vào. D dùng tay rút bỏ các dây điện của máy tính rồi lấy trộm 01 cây máy tính nhãn hiệu ORIENT màu đen, kích thước (40x41x17,5)cm, D cho cây máy tính vào 01 túi ni lông màu vàng có sẵn trong phòng rồi xách túi ni lông đựng theo cây máy tính rời khỏi bệnh viện đi bộ đến cửa hàng máy tính “Hòa Bình”, thuộc tổ dân phố 11, phường P, thành phố T gặp anh Nguyễn Thanh T, trú tại tổ dân phố 07, phường P, thành phố T (là bạn của anh Nguyễn Hải B chủ cửa hàng) bán cây máy tính với giá 100.000 đồng. Số tiền trên D chi tiêu cá nhân hết.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 45/KLĐG ngày 03/8/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố T kết luận: 01 cây máy tính nhãn hiệu ORIENT, hình hộp chữ nhật, màu đen, kích thước (40x41x17,5)cm, đã qua sử dụng có giá trị là 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng).

Tại bản Cáo trạng số 94/CT-VKSTP ngày 30/9/2022 của Viện kiểm sát nhân dân nhân thành phố T, tỉnh Tuyên Quang đã truy tố bị cáo Trần Viễn D về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1, Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

- Đại diện bị hại không yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự, đề nghị HĐXX xem xét mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo;

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Thanh T vắng mặt, quá trình điều tra anh T không yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng) mà anh T bỏ ra mua cây máy tính (tài sản bị cáo trộm cắp);

- Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh và điều luật đã nêu trong cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng: điểm b khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Trần Viễn D phạm tội: “Trộm cắp tài sản”, xử phạt bị cáo Trần Viễn D từ 07 tháng tù đến 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam. Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo. Tuyên nghĩa vụ chịu án phí của bị cáo và tuyên quyền kháng cáo của bị cáo, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan theo quy định của pháp luật.

- Bị cáo không kêu oan, nội dung khai của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, không có tình tiết mới, bị cáo không có khiếu nại gì về kết luận điều tra, nhất trí với nội dung cáo trạng và luận tội của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, không có ý kiến tranh luận và cũng không có ý kiến để bào chữa cho hành vi phạm tội của mình. Bị cáo nói lời sau cùng, xin Hội đồng xét xử cho hưởng mức án nhẹ nhất để sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội và năng lực chịu trách nhiệm hình sự:

Tại phiên tòa, bị cáo tiếp tục khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, bản ảnh hiện trường, lời khai của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Từ những chứng cứ nêu trên có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 24/7/2022 tại Bệnh viện đa khoa T, địa chỉ tổ dân phố 17, phường Tân Hà, thành phố T, Trần Viễn D, cư trú tại tổ dân phố 12, phường A, thành phố T (có 01 tiền án về tội Trộm cắp tài sản), có hành vi trộm cắp 01 cây máy vi tính nhãn hiệu ORIENT, hình hộp chữ nhật, màu đen, kích thước (40x41x17,5)cm, đã qua sử dụng của Bệnh viện đa khoa T có giá trị là 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng).

Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp, bị cáo lén lút chiếm đoạt 01 cây máy vi tính nhãn hiệu ORIENT có giá trị là 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng) của Bệnh viện đa khoa T, tuy trị giá tài sản bị cáo trộm cắp có trị giá dưới 2.000.000 đồng nhưng bị cáo “có 01 tiền án về tội Trộm cắp tài sản” đây là tình tiết định tội đối với bị cáo nên hành vi của bị cáo cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, tỉnh Tuyên Quang truy tố bị cáo Trần Viễn D về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự và là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Đối với anh Nguyễn Thanh T, quá trình điều tra và kết quả tranh tụng tại phiên tòa xác định, khi mua cây máy tính của bị cáo, anh T không biết cây máy tính do bị cáo trộm cắp mà có. Do vậy, HĐXX không xem xét xử lý.

Về tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội: Bị cáo có sức khỏe, có khả năng lao động nhưng không chịu lao động kiếm tiền chân chính mà lại trộm cắp tài sản của người khác. Hành vi của bị cáo không những xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản được pháp luật bảo vệ mà còn ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.

Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên áp dụng cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về quyết định hình phạt: HĐXX nhận thấy, bị cáo đã bị Tòa án xử phạt tù về tội “Trộm cắp tài sản”, mới chấp hành xong hình phạt tù nhưng không lấy làm bài học rút kinh nghiệm mà còn tiếp tục phạm tội, qua đó đánh giá ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo còn rất kém. Hành vi của bị cáo thể hiện sự coi thường pháp luật, khó có thể tự mình tu dưỡng cải tạo tại địa phương. Do vậy, cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo; số tiền bị cáo chiếm đoạt cũng như tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy mức án mà Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp, cần chấp nhận.

Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập thường xuyên; không có tài sản gì có giá trị. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo đúng như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là Bệnh viện đa khoa T, Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Thanh T không có yêu cầu về dân sự nên HĐXX không xem xét trách nhiệm dân sự của bị cáo đối với Bệnh viện đa khoa T và anh Nguyễn Thanh T.

Vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an thành phố T đã tạm giữ 01 cây máy tính nhãn hiệu ORIENT, hình hộp chữ nhật, màu đen, kích thước (40x41x17,5)cm, đã qua sử dụng. Ngày 23/9/2022, Cơ quan điều tra trả lại 01 cây máy tính nhãn hiệu ORIENT, hình hộp chữ nhật, màu đen, kích thước (40x41x17,5)cm, đã qua sử dụng cho Bệnh viện đa khoa T. Do vậy, HĐXX không xem xét xử lý về vật chứng.

Án phí của vụ án: Bị cáo Trần Viễn D phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự.

- Tuyên bố bị cáo Trần Viễn D phạm tội: “Trộm cắp tài sản”;

- Xử phạt bị cáo Trần Viễn D 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam 03/8/2022.

2. Căn cứ khoản 2 Điều 136; khoản 1 Điều 331, khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Bị cáo Trần Viễn D phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

- Bị cáo Trần Viễn D, Bị hại là Bệnh viện đa khoa T được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án 21/11/2022; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Thanh T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

(Bị cáo, Bị hại được kháng cáo toàn bộ nội dung vụ án; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình)

Cỡ chữ