vanban.org

Bản án 132/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi Tuyên án 18/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Huỳnh Công T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Xử phạt bị cáo Huỳnh Công T 12 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng. Giao bị cáo Huỳnh Công T cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện N, tỉnh Quảng Ngãi giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "HUỲNH CÔNG TOÀN - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 174 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI
TỈNH QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 132/2022/HS-ST
Ngày 18-11- 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Nam.

Các Hội thẩm nhân dân:

- Bà Đinh Thị Thanh Thủy

- Bà Nguyễn Thị Minh Thư

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Mỹ Loan - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 143/2022/TLST - HS ngày 19 tháng 9 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 538/2022/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:

Huỳnh Công T, sinh ngày 10 tháng 3 năm 1987, tại tỉnh Quảng Ngãi.

Nơi cư trú: Thôn N, xã H, huyện N, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Nhân viên thị trường; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Công L và bà Lê Thị R; có vợ nhưng đã ly hôn và 01 con sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không;

Bị hại:

1. Công ty TNHH MTV May mặc và Thương mại B, địa chỉ: 149 T, phường C, TP Q, tỉnh Quảng Ngãi. Người đại diện hợp pháp ông Lê Văn Bình – Giám đốc; vắng mặt.

2. Ông Trịnh Ngọc C, sinh năm 1987; địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện N, tỉnh Quảng Ngãi; vắng mặt

3. Ông Trần Đức C, sinh năm 1966; địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện N, tỉnh Quảng Ngãi; vắng mặt.

4. Bà Lê Thị Hoàng H, sinh năm 1979; địa chỉ: Thôn Phú Lâm, xã Hành Thiện, huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi; có đơn xin vắng mặt.

5. Ông Nguyễn Hữu H1, sinh năm 1975. Chủ Khu du lịch sinh thái S, địa chỉ: Thôn K, xã H, huyện N, tỉnh Quảng Ngãi.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Hữu H, sinh năm 1985, địa chỉ: 323 T, phường C, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; có mặt.

6. Ông Nguyễn Hữu T, sinh năm 1953; địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện N, tỉnh Quảng Ngãi; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Huỳnh Công T nguyên là nhân viên thuộc Trung tâm Kinh doanh VNPT-Quảng Ngãi, Chi nhánh Tổng Công ty Dịch vụ Viễn Thông, Tập đoàn bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT), Nguyễn Hữu T làm việc tại bộ phận kinh doanh, phát triển khách hàng (Bán sim, card, lắp đặt Wifi, My TiVi, hỗ trợ cài đặt các phần mềm máy tính…) từ năm 2007 đến ngày 01/7/2021 thì chấm dứt hợp đồng lao động.

Sau khi nghỉ việc tại VNPT Quảng Ngãi, từ tháng 11/2021 đến tháng 3/2022, do cần tiền để trả nợ cá nhân nên Huỳnh Công T đã nảy sinh việc giả danh nhân viên VNPT để thu tiền cước viễn thông INTERNET của các khách hàng VNPT (những khách hàng mà bị cáo T quen biết từ trước). Huỳnh Công T mua phiếu thu bán lẻ ở tiệm tạp hóa và trực tiếp tư vấn cho khách hàng gói cước ưu đãi phí sử dụng dịch vụ viễn thông INTERNET, bị cáo T đưa ra gói cước cho khách hàng nếu đóng đủ tiền 01 năm thì sẽ được ưu đãi, khuyến mãi thêm 03 tháng. Khi khách hàng đồng ý thì bị cáo T trực tiếp viết vào phiếu thu đã chuẩn bị sẵn cho từng khách hàng, bị cáo T ký tên ở phần người lập và giữ lại liên màu trắng, giao cho khách hàng liên màu đỏ và nhận tiền mặt rồi chiếm đoạt. Với thủ đoạn như trên, bị cáo T đã thu tiền của 06 (Sáu) các nhân, tổ chức trên địa bàn thành phố Quảng Ngãi và huyện Nghĩa Hành với tổng số tiền chiếm đoạt là: 23.212.000đ (Hai mươi ba triệu hai trăm mười hai nghìn đồng). Cụ thể như sau:

- Ngày 23/11/2021, Công ty TNHH MTV May mặc và Thương mại B, địa chỉ: 149 T, phường C, TP Q gọi điện thoại cho Huỳnh Công T đến cài đặt phần mềm bảo hiểm, sau khi cài đặt xong bị cáo T tư vấn cho Công ty B gói cước dịch vụ viễn thông nộp tiền 12 tháng thì được khuyến mãi 03 tháng. Đại diện Công ty B đồng ý, bị cáo T thu tiền cước của Công ty và giao cho Công ty một biên lai phiếu thu. Tổng số tiền thu là: 5.556.000đ (Năm triệu năm trăm năm mươi sáu nghìn đồng).

- Ngày 30/01/2022, bị cáo T gọi điện thoại cho ông Trịnh Ngọc C để tư vấn gói cước dịch vụ viễn thông (wifi) nộp 12 tháng thì được khuyến mãi 03 tháng, ông C đồng ý. Bị cáo T đến nhà ông C thu tiền và giao cho ông C một phiếu thu. Tổng số tiền thu là: 1.980.000đ (Một triệu chín trăm tám mươi nghìn đồng).

- Ngày 15/02/2022, bị cáo T đến nhà ông Trần Đức C tư vấn gói cước dịch vụ viễn thông (wifi) nộp 12 tháng thì được khuyến mãi 03 tháng, ông Trần Đức C đồng ý, Bị cáo T thu tiền của ông Trần Đức C và giao cho ông Trần Đức C một phiếu thu. Tổng số tiền thu là: 2.100.000đ (Hai triệu một trăm nghìn đồng).

- Vào tháng 02/2022, bị cáo T đến nhà bà Lê Thị Hoàng H để sửa Wifi, bị cáo T tư vấn cho bà H gói cước dịch vụ viễn thông (wifi) nộp 12 tháng thì được khuyến mãi 03 tháng, bà H đồng ý, Bị cáo T đã thu tiền của bà H. Tổng số tiền thu là: 1.980.000đ (Một triệu chín trăm tám mươi nghìn đồng).

- Ngày 24/02/2022, ông Nguyễn Hữu H1 (chủ Khu du lịch sinh thái S, xã H, huyện N, tỉnh Quảng Ngãi) gọi điện cho bị cáo T đến sửa Wifi tại S, sau khi sửa xong Bị cáo T tư vấn cho ông H1 gói cước dịch vụ viễn thông (wife) nộp 12 tháng thì được khuyến mãi 03 tháng, ông H1 đồng ý, bị cáo T thu tiền của ông H1 với tổng số tiền là: 8.796.000đ (Tám triệu bảy trăm chín mươi sáu nghìn đồng).

- Tháng 03/2022 (không rõ ngày), bị cáo T đến nhà ông Nguyễn Hữu T để sửa Camera, sau khi sửa xong bị cáo T tư vấn cho ông Nguyễn Hữu T gói cước dịch vụ viễn thông (wife, My TV) nộp 12 tháng thì được khuyến mãi 03 tháng, ông Nguyễn Hữu T đồng ý, bị cáo T thu tiền của ông Nguyễn Hữu T với tổng số tiền là: 2.800.000đ (Hai triệu tám trăm nghìn đồng).

Sau khi Huỳnh Công T thu tiền của các khách hàng trên, đến thời hạn nộp phí nhân viên VNPT thông báo cho những khách hàng nộp phí cước sử dụng viễn thông INTERNET, lúc này các khách hàng mới biết Huỳnh Công T đã nghỉ làm ở VNPT nhưng vẫn thu tiền của họ nên đã báo cáo sự việc cho VNPT Quảng Ngãi.

Tại Cơ quan điều tra, Huỳnh Công T đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình phù hợp với tài liệu, chứng cứ thu thập được.

Ngày 30/6/2022, Phòng PC09 Công an tỉnh Quảng Ngãi có Kết luận giám định số 583/KL-KTHS, kết luận:

- Chữ ký, chữ viết trong các phiếu thu mà Huỳnh Công T sử dụng giao cho các khách hàng VNPT và chữ ký, chữ viết do bị cáo T tự ký, tự viết cung cấp cho cơ quan điều tra là do cùng một người ký, viết ra.

- Các phiếu thu Huỳnh Công T sử dụng thu tiền giao cho các khách hàng VNPT không cùng bản in với Giấy biên nhận thanh toán do VNPT Quảng Ngãi phát hành.

Bản cáo trạng số: 121/CT-VKS ngày 16/9/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi truy tố Huỳnh Công T về tội “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Khoản 1 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt: Huỳnh Công T mức án từ 12 tháng tù đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.

- Về dân sự: Bị cáo Huỳnh Công T đã bồi thường xong, bị hại không còn yêu cầu nên không xem xét.

- Về vật chứng: Lưu hồ sơ vụ án các tài liệu sau:

+ 01 phiếu thu tháng 02/2022, họ tên người nộp tiền Trần Minh Chính

+ 01 phiếu thu ngày 23/11/2022, họ tên người nộp tiền Công ty TNHH MTV Thương mại B

+ 01 phiếu thu ngày 30/01/2022, họ tên người nộp tiền Trịnh Ngọc C

+ 01 giấy biên nhận thanh toán gồm 03 liên, số 039828 do VNPT Quảng Ngãi phát hành.

Ý kiến của bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị hại – ông Nguyễn Hữu H: Thống nhất với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợppháp.

Tại phiên tòa các bị hại vắng mặt nhưng đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến quá trình xét xử vụ án. Do đó Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại các Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Huỳnh Công T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã nêu, lời khai của bị cáo phù hợp với các lời khai tại giai đoạn điều tra, truy tố và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ, do đó Hội đồng xét xử có cơ sở kết luận: Từ tháng 11/2021 đến tháng 03/2022, Huỳnh Công T giả danh là nhân viên VNPT Quảng Ngãi để tư vấn các gói cước sử dụng dịch vụ viễn thông của VNPT cho các khách hàng và sử dụng các phiếu thu tiền không phải do VNPT Quảng Ngãi phát hành thu tiền cước của các khách hàng VNPT. Bị cáo Huỳnh Công T chiếm đoạt của Công ty TNHH MTV May mặc và Thương mại B số tiền 5.556.000 đồng, chiếm đoạt của các ông bà: Trịnh Ngọc C số tiền 1.980.000 đồng, Trần Đức C số tiền 2.100.000 đồng, Lê Thị Hoàng H số tiền là 1.980.000 đồng, Nguyễn Hữu H1 (chủ Khu du lịch S) số tiền 8.796.000 đồng, Nguyễn Hữu T số tiền 2.800.000 đồng. Tổng số tiền chiếm đoạt là: 23.212.000 đồng (Hai mươi ba triệu hai trăm mười hai nghìn đồng) nên đã phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an địa phương. Trong quá trình điều tra, bị cáo đã tự nguyện bồi thường toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt cho bị hại, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo có ông nội Huỳnh Q là Liệt sỹ và được Chủ tịch nước truy tặng Huân chương độc lập Hạng Ba, bà nội Đỗ Thị T là Mẹ Việt Nam anh hùng, có ông ngoại Lê Hồng V là Liệt sỹ, bà ngoại Nguyễn Thị L là thương binh 3/4, có cha ruột Huỳnh Công L được Nhà nước tặng Huy chương kháng chiến hạng nhất, mẹ ruột Lê Thị R được Nhà nước tặng Huy chương kháng chiến hạng Nhì nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, tuy nhiên các lần phạm tội đều là tội phạm ít nghiêm trọng; bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng nên đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử nhận thấy không cần thiết cách ly bị cáo Huỳnh Công T ra ngoài xã hội mà giao bị cáo về cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục cũng đủ tác dụng răn đe bị cáo, tạo điều kiện cho bị cáo tự cải tạo, lao động để trở thành công dân tốt, đồng thời cũng thể hiện chích sách khoan hồng của pháp nên cần áp dụng hình phạt tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo là phù hợp.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Huỳnh Công T đã bồi thường, khắc phục toàn bộ thiệt hại cho những người bị hại và bị hại không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về vật chứng: Lưu hồ sơ vụ án các tài liệu sau:

+ 01 phiếu thu tháng 02/2022, họ tên người nộp tiền Trần Minh C

+ 01 phiếu thu ngày 23/11/2022, họ tên người nộp tiền Công ty TNHH MTV Thương mại B

+ 01 phiếu thu ngày 30/01/2022, họ tên người nộp tiền Trịnh Ngọc C

+ 01 giấy biên nhận thanh toán gồm 03 liên, số 039828 do VNPT Quảng Ngãi phát hành.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức hình phạt, xử lý vật chứng là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo Huỳnh Công T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo Bản án theo quy định Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Huỳnh Công T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Căn cứ khoản 1 Điều 174; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Công T 12 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng. Giao bị cáo Huỳnh Công T cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện N, tỉnh Quảng Ngãi giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

2. Về án phí: Căn cứ vào Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Huỳnh Công T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015; bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ