- Tranh chấp gì? án hình sự — "MAI THUA T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 1/ Tuyên bố bị cáo Mai Thừa T (Tiên) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:132/2022/HS-ST Ngày 02-12-2022 |
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Hoài Dinh.
- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hồ Huy Cường.
2. Ông Nguyễn Văn Ninh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Anh Thư - Thư ký Tòa án nhân dân huyện GD, tỉnh TN.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Đức – Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 137/2022/HSST ngày 26 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 133/2022/QĐXXST- HS ngày 21 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:
Mai Thừa T (Tiên); sinh năm 1993, tại tỉnh TN; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: ấp BH, xã PB, thị xã TB, tỉnh TN; Nghề nghiệp: công nhân; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Mai Hữu Đ, sinh năm 1973 và bà Đào Xuân T1, sinh năm 1968; Vợ, con: chưa có; Tiền án: Bản án số 65 ngày 30-7-2015 của Tòa án nhân dân huyện TB xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009. Bản án số 70 ngày 16-12-2017 của Tòa án nhân dân huyện TB xử phạt 04 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 2 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009; Tiền sự: không có; Nhân thân: có 02 tiền án và chưa bị xử lý vi phạm hành chính lần nào; Bị cáo bị tạm giữ ngày 09-9-2022, đến ngày 12-9-2022 bị tạm giam cho đến nay, có mặt.
Bị hại: Chị Lý Thị Mai T2, sinh năm: 1989. Vắng mặt.
Địa chỉ: ấp TV 3, xã TP, huyện GD, tỉnh TN.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Mai Thừa T có 02 tiền án về tội trộm cắp tài sản. Do cần tiền tiêu xài nên T đã 03 lần vào nhà của chị Lê Cẩm D và nhà của ông Lê Văn P, hai nhà cạnh nhau thuộc ấp TV 3, xã TP, huyện GD để tìm tài sản lấy trộm, cụ thể:
Lần thứ nhất: Khoảng 20 giờ ngày 06-9-2022, T điều khiển xe môtô biển số 70LD-401.67 đến nhà của chị D thấy nhà tắt đèn, cổng rào không khóa nên T giấu xe ở đường hẻm cách đó khoảng 30 mét, quay đầu xe ra ngoài đường để khi bị phát hiện kịp thời tẩu thoát, rồi đi bộ đến nhà của chị D. T dùng tay mở cửa trước nhà nhưng không được, rồi đi ra mở cửa sau cũng không được. Lúc này, chị D nghe tiếng mở cửa nên mở đèn lên. Thấy vậy, T chạy ra lấy xe bỏ chạy.
Lần thứ hai: Khoảng 21 giờ ngày 07-9-2022, T điều khiển xe môtô biển số 70LD-401.67 đến nhà của ông P. Sau khi cất giấu xe, T mở cửa cổng đi ra phía sau nhà của ông P thấy cửa không khóa. T mở cửa đi vào nhà thấy xe môtô hiệu Honda Wave biển số 70F1-761.86 của chị Lý Thị Mai T2 là con dâu của ông P, trên xe có sẵn chìa khóa. T đẩy xe môtô này lùi ra cửa sau một đoạn thì bị anh Lê Hoàng Phi là con của ông P phát hiện truy hô nên T bỏ xe lại, rồi chạy ra lấy xe bỏ chạy.
Lần thứ ba: Khoảng 01 giờ ngày 09-9-2022, T điều khiển xe môtô biển số 70LD-401.67 đến nhà của ông P. Sau khi cất giấu xe, T mở cửa cổng đi vào thấy ông P đang nằm ngủ trên giường ở trước nhà. T để đôi dép đang mang trên nền gạch để không gây ra tiếng động, rồi đi đến đầu giường lục tìm tài sản trong túi quần, áo treo trên đầu cây giăng mùn. Lúc này, anh Phi từ trong nhà đi ra phát hiện truy hô, rồi cùng với anh Lê Minh Âu và anh Phạm Minh Tấn đuổi theo bắt giữ T giao Công an xử lý.
Kết luận định giá tài sản số 67 ngày 14-9-2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện GD kết luận: Xe môtô hiệu Honda Wave biển số 70F1-761.86 tại thời điểm ngày 07-9-2022 trị giá 14.000.000 đồng.
Kết quả thu giữ và xử lý vật chứng: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu xanh đen bạc, biển số 70LD-401.67, số máy: JA39E1003842, số khung: RLHJA391XKY146599, dung tích xilanh 109 cm3, đã qua sử dụng; 01 đôi dép bằng nhựa màu hồng kích thước (24x9)cm, loại 01 quai ngang, đã qua sử dụng; 01 đôi dép xốp màu xanh kích thước (25x10)cm, loại quai kẹp, đã qua sử dụng, tất cả đã chuyển sang Chi cục Thi hành án dân sự huyện GD tạm giữ chờ xử lý. Riêng 01 xe môtô hiệu Honda Wave biển số 70F1-761.86, đã trả lại cho chị T2.
Về trách nhiệm dân sự: Chị T2 đã nhận lại tài sản bị mất, nên không yêu cầu bồi thường.
Về kê biên tài sản: Do bị cáo T không có sở hữu tài sản nên Cơ quan điều tra không kê biên.
Cáo trạng số: 119/CT-VKSGD ngày 25-10-2022 Viện kiểm sát nhân dân huyện GD đã truy tố bị cáo Mai Thừa T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Trong quá trình điều tra, bị hại – chị Lý Thị Mai T2 trình bày: chị bị mất 01 xe môtô hiệu Honda, loại Wave biển số 70F1-761.86 do bị cáo lấy trộm, chị đã nhận lại tài sản bị mất xong và không yêu cầu bồi thường thiệt hại, về hình phạt chị yêu cầu giải quyết theo quy định pháp luật.
Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện GD giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo mức án từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo vì không có tài sản.
Đồng thời đề nghị áp dụng Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Các Điều 584, 589 Bộ luật Dân sự: ghi nhận bị hại đã nhận lại tài sản bị mất không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại; tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 xe mô tô; tịch thu tiêu hủy 02 đôi dép.
Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo đã ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện GD, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện GD, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi của bị cáo thể hiện: Ngày 07-9-2022, tại ấp TV 3, xã TP, huyện GD, Mai Thừa T có hành vi vào nhà của ông Lê Văn P để lén lút chiếm đoạt xe môtô hiệu Honda, loại Wave biển số 70F1-761.86 trị giá 14.000.000 đồng của chị Lý Thị Mai T2.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an ở địa phương nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, phù hợp với lời trình bày của những người tham gia tố tụng khác. Bị cáo đã tái phạm nay lại cố ý thực hiện hành vi phạm tội mới, nên hành vi của bị cáo đã thỏa mãn các yếu tố cấu thành tội phạm của tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do đó, lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ.
Vụ án này mang tính chất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo không những gây ra bất bình trong dư luận, mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự ở địa phương, gây ra tâm lý hoang mang, lo sợ trong quần chúng nhân dân trong việc giữ gìn và bảo vệ tài sản. Do đó, khi quyết định hình phạt cần áp dụng đối với bị cáo một mức án nghiêm mới có đủ thời gian giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
Khi quyết định hình phạt, có xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho từng bị cáo như sau:
Tình tiết tăng nặng: Không có.
Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự mà bị cáo được hưởng.
Do bị cáo không có tài sản, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Đối với đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện GD, Hội đồng xét xử thấy có căn cứ, đúng pháp luật nên chấp nhận.
Về bồi thường thiệt hại: Chị Lý Thị Mai T2 đã nhận lại 01 xe môtô hiệu Honda, loại Wave, biển số 70F1-761.86 và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại, nên cần ghi nhận.
Về xử lý vật chứng:
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu xanh đen bạc, biển số 70LD-401.67, số máy: JA39E1003842, số khung: RLHJA391XKY146599, dung tích xilanh 109 cm3, đã qua sử dụng bị cáo dùng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội, còn giá trị sử dụng, nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
- 01 đôi dép bằng nhựa màu hồng kích thước (24x9)cm, loại 01 quai ngang, đã qua sử dụng và 01 đôi dép xốp màu xanh kích thước (25x10)cm, loại quai kẹp, đã qua sử dụng bị cáo mang khi thực hiện hành vi phạm tội, không còn giá trị sử dụng, nên cần tịch thu tiêu hủy.
Do Hội đồng xét xử kết luận bị cáo có tội, nên bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1/ Tuyên bố bị cáo Mai Thừa T (Tiên) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Mai Thừa T (Tiên) 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 09-9-2022.
2/ Các biện pháp tư pháp: Căn cứ vào Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Các Điều 584, 589 Bộ luật Dân sự:
Ghi nhận chị Lý Thị Mai T2 đã nhận lại 01 xe môtô hiệu Honda, loại Wave, biển số 70F1-761.86 và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại.
Tuyên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu xanh đen bạc, biển số 70LD-401.67, số máy: JA39E1003842, số khung: RLHJA391XKY146599, dung tích xilanh 109 cm3, đã qua sử dụng.
Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 đôi dép bằng nhựa màu hồng kích thước (24x9)cm, loại 01 quai ngang, đã qua sử dụng và 01 đôi dép xốp màu xanh kích thước (25x10)cm, loại quai kẹp, đã qua sử dụng.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26 tháng 10 năm 2022 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện GD)
3/ Án phí: Căn cứ vào Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:
Bị cáo Mai Thừa T (Tiên) phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4/ Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh TN trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh TN; - VKSND tỉnh TN; - Phòng KTNV. TA tỉnh TN; - Phòng lý lịch STP tỉnh TN; - Phòng PV 06 CA tỉnh TN; - VKSND huyện GD; - Công an huyện GD (02 bản); - Nhà tạm giữ CA huyện GD; - CC.THADS huyện GD; - Bị cáo, bị hại; - Lưu hồ sơ; - Lưu tập án HSST./. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đặng Hoài Dinh THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |