vanban.org

Bản án 132/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận Tuyên án 08/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Công H - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN B
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 132/2022/HS-ST
Ngày: 08-12-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B

TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Quốc Tuấn.

Các hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Hạnh

2. Bà Phạm Thị Bích Lệ

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Lâm Hoàng Bảo Vân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B tham gia phiên tòa: Ông Tằn Đình Thống - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 12 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện B xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 110/2022/TLST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 112/2022/QĐXXST-HS ngày 09/11/2022 đối với bị cáo:

Nguyễn Công H (Tên gọi khác: Vẹo), sinh năm 1990.

Nơi sinh: Tỉnh Bình Thuận

Nơi cư trú: Thôn T, xã H, huyện B, tỉnh Bình Thuận.

Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Công H, sinh 1970 và bà Bùi Thị H, sinh 1970

Vợ, con: Chưa có.

Tiền sự: Không.

Tiền án: Có 01 tiền án; ngày 25/4/2019 bị Tòa án nhân dân huyện B xử phạt 24 tháng tù, về tội trộm cắp tài sản, chấp hành xong hình phạt ngày 15/10/2020 và phần khác của bản án, chưa được xóa án tích. (Theo Bản án số 29/2019/HSST ngày 25/4/2019).

Nhân thân của bị cáo: Ngày 15/6/2018 bị Công an huyện B ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản, với hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng.

Bị cáo đang bị tạm giam trong vụ án khác; có mặt.

- Bị hại: Hồ Văn Q, sinh năm 1970 (Có mặt)

- Người làm chứng: Đinh Văn H1, sinh năm 1972 (Vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Thôn T, xã P, huyện B, tỉnh Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Nguyễn Công H (tức là Vẹo), sinh ngày 01/02/1990, ở Thôn T, xã H, huyện B, tỉnh Bình Thuận là người nghiện ma túy, vào ngày 25/4/2019 bị Tòa án nhân dân huyện B xử phạt 24 tháng tù, về tội: Trộm cắp tài sản, chấp hành xong hình phạt vào ngày 15/10/2020 và phần khác của bản án, đến ngày 12/5/2022 chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác, như sau:

Vào khoảng 06 giờ ngày 12/5/2022, Nguyễn Công H đang ở nhà ở thôn T, xã H điều khiển xe mô tô biển số 86B2-020.23 đi đến thị trấn S để sử dụng chung ma túy với những người bạn nghiện. Sau khi sử dụng ma túy xong, đến khoảng 07 giờ cùng ngày 12/5/2022, H chạy xe mô tô quay lại về nhà. Trên đường chạy xe về nhà thì Hân nảy sinh ý định lấy trộm tài sản của người khác để bán lấy tiền tiêu xài và mua ma túy sử dụng nên Hân chạy xe rẽ vào khu vực thôn T, xã P, huyện B để tìm kiếm nhà dân nào để tài sản sơ hở thì lén lút lấy trộm. Khi đến trước nhà anh Hồ Văn Q, sinh năm 1970, ở thôn T, xã P thì H nhìn thấy ở mái hiên trước sân nhà của anh Q có để 02 cuộn dây điện loại dây sườn (mỗi cuộn dài 100 mét), hiệu Thipha cable AV 70mm², cửa cổng và cửa nhà đều đóng khóa, nhà không có ai trông coi nên Hân nảy sinh ý định lấy trộm 02 cuộn dây điện có đặc điểm nêu trên. Hân dựng xe mô tô biển số 86B2-020.23 trước cổng nhà, rồi xuống xe leo qua hàng rào lưới B40 đột nhập vào bên trong sân nhà của anh Q, lần lượt lấy trộm 02 cuộn dây điện có đặc điểm nêu trên ném qua bên ngoài hàng rào lưới B40, gần vị trí dựng xe mô tô, rồi Hân leo qua hàng rào lưới B40 để ra ngoài thì ông Đinh Văn H1, sinh năm 1972 nhà ở gần đó nhìn thấy nên ông H1 đi đến hỏi Hân: “Sao lấy dây điện của người ta vậy”, H nói dối: “Dây điện đã mua lâu rồi nên hôm nay đến chở”. Ông H1 thấy H trả lời hơi ấp ớ nên nghi ngờ Hân lấy trộm dây điện và đến ngăn chặn Hân lại thì H nhanh chóng phóng lên xe mô tô, nổ máy điều khiển xe bỏ chạy thoát và bỏ lại 02 cuộn dây điện có đặc điểm nêu trên tại hiện trường. Ông H1 gọi điện thoại báo cho anh Q biết nhà anh Q bị kẻ gian đột nhập lấy trộm, lúc này anh Q đang ở trên ruộng nên chạy xe mô tô về nhà, kiểm tra tài sản và đi đến Công an xã P trình báo nội dung sự việc nêu trên. Sau khi tiếp nhận tin báo, Công an xã P đã tiến hành kiểm tra hiện trường, xác minh ban đầu, xét thấy có dấu hiệu của tội phạm nên chuyển hồ sơ đến Cơ quan CSĐT Công an huyện B giải quyết theo thẩm quyền.

* Theo kết luận định giá tài sản số 38/2022/HĐĐG-TTHS ngày 04/7/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B, kết luận: 200 mét dây điện (loại dây sườn) hiệu Thipha cable AV 70mm², mua mới năm 2016 (gồm 02 cuộn, mỗi cuộn dài 100 mét) bị trộm cắp vào ngày 12/5/2022 tại xã P: Nguyên giá: 20.000 đồng/mét, số lượng: 200 mét, chất lượng còn lại: 35%. Thành tiền: 200 mét x (20.000 đồng/mét x 35%) = 1.400.000 đồng.

Quá trình điều tra, Nguyễn Công H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung vụ án nêu trên. Lời khai nhận của Hân phù hợp với lời khai bị hại, người làm chứng, tài sản thu giữ được, kết quả định giá tài sản và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án nên đủ căn cứ xác định: Nguyễn Công H đã bị kết án về tội trộm cắp tài sản, đến nay chưa xóa án tích mà tiếp tục có hành vi lén lút, bí mật lấy trộm 200 mét dây điện sườn trị giá: 1.400.000 đồng.

Về tang, vật chứng của vụ án: Cơ quan Công an đã thu giữ 200 mét dây điện (loại dây sườn) hiệu Thipha cable AV 70mm² (gồm 02 cuộn, mỗi cuộn dài 100 mét). Sau khi có kết quả định giá, Cơ quan Công an đã xử lý vật chứng giao trả 200 mét dây điện có đặc điểm nêu trên cho bị hại Hồ Văn Q theo quy định pháp luật.

Qua điều tra xác định: Chiếc xe mô tô biển số 86B2-020.23 do anh Tạ Ngọc M, sinh năm 1982, ở khu phố 01, phường B, thành phố P, tỉnh Bình Thuận đứng tên đăng ký chủ sở hữu. Anh M khai đã bán chiếc xe mô tô trên cho gia đình ông Nguyễn Công H2, sinh năm 1970, ở thôn T, xã H, huyện B (là cha ruột của Nguyễn Công H) nhiều năm trước với số tiền 37.000.000 đồng; còn ông H2 khai mua xe mô tô này của M để sử dụng chung trong gia đình và giao xe mô tô này cho Hquản lý. Nguyễn Công H khai sau khi lấy trộm 02 cuộn dây điện trên bị phát hiện, thì H đã chạy xe mô tô này đến thị trấn L, huyện H trốn, do không có tiền tiêu xài nên H đã bán chiếc xe mô tô này cho 01 người khác (không rõ nhân thân lai lịch) với số tiền 10.000.000 đồng. Do không xác định rõ nhân thân lai lịch của người mua nên không có căn cứ thu hồi chiếc xe mô tô trên và đề nghị xử lý.

Về phần dân sự: Người bị hại Hồ Văn Q đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét giải quyết.

Tại bản cáo trạng số 109/CT-VKS.HBB ngày 27/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện B đã truy tố bị cáo Nguyễn Công H về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện B luận tội đối với bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Công H phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo Điểm b;khoản 1, Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015( Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).Áp dụng: Điểm b; Khoản 1,Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi bổ sung năm 2017); Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Công H từ 06 tháng đến 09 tháng tù;

Bị cáo Nguyễn Công H không tranh luận gì, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm trở về với gia đình.

Hội đồng xét xử, xét thấy đề nghị đại điện Viện kiểm sát là có căn cứ nên có cơ sở để xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền,trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, chuẩn bị xét xử và tại phiên toà hôm nay, bị cáo Nguyễn Công H không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung:

Trong giai đoạn điều tra và tại phiên toà hôm nay, bị cáo Nguyễn Công H đã thừa nhận: Vào khoảng hơn 07 giờ ngày 12/5/2022, tại Thôn T, xã P, huyện B, tỉnh Bình Thuận. Bị cáo Nguyễn Công H đã có hành vi lén lút, bí mật lấy trộm 200 mét dây điện (loại dây sườn) hiệu Thiphacable AV 70mm² của Hồ Văn Q trị giá 1.400.000 đồng thì bị phát hiện. Tài sản đã được thu hồi giao trả lại cho bị hại.

Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập trong hồ sơ vụ án.Tuy tài sản bị chiếm đoạt là 1.400.000 đồng nhưng bị cáo Nguyễn Công H đã có tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích mà còn vi phạm nên đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015(Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Với hành vi nêu trên và hậu quả để lại, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện B đã truy tố bị cáo Nguyễn Công H về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 BLHS là có cơ sở và đúng pháp luật.

Bị cáo hoàn toàn nhận thức được hành vi chiếm đọat tài sản là hành vi nguy hiểm cho xã hội phải bị xử lý nhưng do bản chất tham lam, tư lợi cá nhân và xem thường pháp luật, bị cáo đã phạm tội. Bị cáo có nhân thân xấu. Bị cáo phạm tội do lỗi cố ý trực tiếp.

Hành vi phạm tội của bị cáo không những xâm hại trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người bị hại mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Do đó, nghĩ nên tuyên cho bị cáo một mức án nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội do bị cáo gây ra để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội đồng thời để răn đe các đối tượng khác có ý đồ phạm tội tương tự.

[3] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tuy nhiên, xét sau khi phạm tội, bị cáo Nguyễn Công H đã thành khẩn khai báo, phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h, s, khoản 1; điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Hội đồng xét xử sẽ quan tâm để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Tài sản trộm cắp đã được thu hồi giao trả cho bị hại. Bị hại cũng không yêu cầu gì thêm nên HĐXX không xem xét.

[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Công H phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[7] Về quyền kháng cáo:Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào: Khoản 1, Điều 268; Khoản 1, Điều 269 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Công H phạm tội:“ Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng: Điểm b; Khoản 1, Điều 173; Điểm h,s; khoản 1; Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 ( Đã được sửa đổi bổ sung năm 2017);

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Công H 09 (Chín) tháng tù.Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

2.Về án phí: Áp dụng: Khoản 2, Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a, Khoản 1; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Công H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm

3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (08/12/2022).

Cỡ chữ