vanban.org

Bản án 132/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Điều 28, Điều 35, Điều 147, Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, nộp và quản lý, sử dụng án phí và lệ p…

Về quan hệ hôn nhân: anh Nguyễn Văn Th được ly hôn chị Mông Thị D Về trách nhiệm nuôi con: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp Hôn nhân gia đình"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Điều 28, Điều 35, Điều 147, Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, nộp và quản lý, sử dụng án phí và lệ p…
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HỆN TH CHƢƠNG
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số : 132 /2022/HNGĐ-ST
Ngày 15 tháng 8 năm 2022
V/v: Tranh chấp Hôn nhân gia đình

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N

TÒA ÁN NHÂN DÂN HỆN TH CHƢƠNG, TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Thái Trường Giang

Các Hội thẩm nhân dân

Bà Nguyễn Thị Ngọc Điệp

Bà Nguyễn Thị Hiền Lương

Thư ký phiên toà : Ông Nguyễn Xuân Tráng - Thư ký Toà án nhân dân Hện Th Chương, tỉnh Nghệ An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Hện Th Chương, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Thùy - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 8 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Hện Th Chương xét xử công khai vụ án thụ lý số 70/ 2022/TLST-HNGĐ, ngày 18 tháng 5 năm 2022 về việc Tranh chấp Hôn nhân gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 105/2022/QĐST-HNGĐ, ngày 04 tháng 8 năm 2022 giữa các đương sự: Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn Th, sinh năm 1982. Địa chỉ: Xóm 6, xã TH, Hện TC, tỉnh NA. Có mặt tại phiên tòa. Bị đơn: Chị Mông Thị D, sinh năm 1984. Địa chỉ: Xóm 6, xã TH, Hện TC, tỉnh NA. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện, trong bản tự khai và tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn anh Nguyễn Văn Th trình bày: Anh và chị Mông Thị D kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện có được tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Điền Mặc, Hện ĐH, tỉnh TN vào ngày 01/04/2008. Sau khi kết hôn xong vợ chồng về sinh sống với nhau hạnh phúc cho đến năm 2021 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn và mâu thuẫn ngày càng trở nên trầm trọng, cũng kể từ đó vợ chồng đã sống ly thân cắt đứt mọi quan hệ cho đến nay. Về nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng theo anh là do tính tình không hợp nhau. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa. Nguyện vọng được ly hôn chị Mông Thị D. Về nuôi con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Văn N, sinh ngày 28 tháng 11 năm 2008 và Nguyễn Gia H, sinh ngày 24 tháng 3 năm 2014. Nay ly hôn anh có nguyện vọng trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng Nguyễn Văn N, sinh ngày 28 tháng 11 năm 2008 và Nguyễn Gia H, sinh ngày 24 tháng 3 năm 2014. Không yêu cầu chị Mông Thị D cấp dưỡng nuôi con. Về chia tài sản và nợ: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ý kiến của bị đơn chị Mông Thị D: Chị hoàn toàn thừa nhận điều kiện kết hôn của vợ chồng đúng như anh Nguyễn Văn Th đã trình bày. Sau khi kết hôn xong vợ chồng về sinh sống hạnh phúc cho đến năm 2021 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn và mâu thuẫn ngày càng trở nên gay gắt và cũng kể từ đó vợ chồng sống ly thân cắt đứt mọi quan hệ cho đến nay. Về nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng theo chị là do anh Th sống không chung thủy, có quan hệ với người khác. Hiện nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng đang còn nguyện vọng vợ chồng trở về đoàn tụ nuôi con. Về nuôi con chung: Vợ chồng có 02 con chung Nguyễn Văn N, sinh ngày 28 tháng 11 năm 2008 và Nguyễn Gia H, sinh ngày 24 tháng 3 năm 2014. Nay ly hôn chị có nguyện vọng trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả 02 con Nguyễn Gia H, sinh ngày 24 tháng 3 năm 2014 và Nguyễn Văn N, sinh ngày 28 tháng 11 năm 2008. Và yêu cầu anh Nguyễn Văn Th góp cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 4.000.000 đồng. Về tài sản chung: Vợ chồng có các tài sản chung: Vợ chồng có diện tích đất 13.000 m2 trồng cây chè (chè từ 03 năm đến 05 năm tuổi) có giá 200.000.000 (hai trăm triệu) đồng. Nguồn gốc đất này là do khai hoang mà có. Hiện nay chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đang làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng. Trên diện tích đất này không có các công trình chỉ có cây chè; địa chỉ Thửa đất tại Xóm 6, xã TH, Hện TC, tỉnh NA. Vợ chồng có diện tích đất 400 m2 đất ở và đất vườn tại Xóm 6, xã TH, Hện TC, tỉnh NA. Trên thửa đất có nhà 02 gian trên lợp ngói, dưới lát gạch, xung quanh xây tường, cửa tạm, nhà làm vào năm 2011 và có cái ràn 02 gian cột bê tông, trên lợp prximang, dưới láng bê tông hiện nay giá trị toàn bộ là 100.000.000 (một trăm triệu) đồng. Trên thửa đất có một số cây ăn quả giá trị thấp. Nguồn gốc đất này là do khai hoang mà có. Hiện nay chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đang làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng. Các tài sản yêu cầu chia đôi mỗi người sử dụng ½ tài sản. Ngoài ra có các tài sản khác vợ chồng tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Hện Th Chương, tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng từ khi thụ lý giải quyết cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án hoàn toàn tuân thủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 28, Điều 35, Điều 147, Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân gia đình, xử:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn Th được ly hôn với Mông Thị D

Về trách nhiệm nuôi con chung: Giao cháu Nguyễn Văn N cho anh Nguyễn Văn Th trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Nguyễn Gia H cho chị Mông Thị D trực tiếp nuôi dưỡng. Không bên nào phải góp cấp dưỡng nuôi con cho nhau

Về tài sản chung và nợ: Không xem xét giải quyết.

Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, nộp và quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc anh Nguyễn Văn Th phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án Tranh chấp Hôn nhân gia đình được quy định tại Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn có nơi cư trú tại xã TH, Hện TC, tỉnh NA. Cho nên việc thụ lý, giải quyết thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân Hện Th Chương, tỉnh Nghệ An.

Về nội dung vụ án: anh Nguyễn Văn Th và chị Mông Thị D kết hôn với nhau hợp pháp có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Điền Mặc, Hện Định Quán, tỉnh TN vào ngày 01 tháng 4 năm 2008 theo đúng quy định. Sau khi kết hôn vợ chồng về sinh sống với nhau hạnh phúc cho đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nay anh Th xét thấy tình cảm vợ chồng là không còn nữa nên có nguyện vọng được ly hôn chị Mông Thị D. Chị Mông Thị D cho rằng tình cảm vợ chồng đang còn, muốn đoàn tụ. Nhưng xét thấy vợ chồng mâu thuẫn đã lâu. Mặc dù đã được chính quyền địa phương hòa giải nhưng không có kết quả. Bản thân chị không có giải pháp nào để vợ chồng hàn gắn tình cảm. Xét thấy tình trạng hôn nhân đã đến mức trầm trọng. Nếu kéo dài cuộc hôn nhân này thì chỉ là hình thức chứ mục đích hôn nhân không đạt được cho nên cần chấp nhận cho anh Nguyễn Văn Th được ly hôn với chị Mông Thị D là đúng quy định của pháp luật.

Về trách nhiệm nuôi con: Hai bên thống nhất vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Văn N, sinh ngày 28 tháng 11 năm 2008 và Nguyễn Gia H, sinh ngày 24 tháng 3 năm 2014. Nay ly hôn cả hai đều có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con. Xét thấy yêu cầu của các bên là hoàn toàn chính đáng. Nhưng nếu giao cả 02 con cho một người trực tiếp nuôi dưỡng sẽ gây khó khăn về mặt kinh tế cho người đó. Hơn nữa để các cháu có điều kiện phát triển về mọi mặt cho nên cần chấp nhận ý kiến của anh Nguyễn Văn Th về việc giao cháu Nguyễn Văn N cho anh Nguyễn Văn Th trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Nguyễn Gia H cho chị Mông Thị D trực tiếp nuôi dưỡng. Không bên nào phải góp cấp dưỡng nuôi con cho nhau

Về phân chia tài sản chung: Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn chị Mông Thị D có yêu cầu Tòa án giải quyết về vấn đề tài sản. Nhưng sau khi có yêu cầu của chị Mông Thị D thì Tòa án đã có Thông báo về việc nộp tạm ứng án phí số 120/TB-TA, ngày 30 tháng 6 năm 2022 về việc Thông báo cho chị Mông Thị D nộp số tiền tạm ứng án phí phân chia tài sản theo quy định. Bản thân chị thừa nhận đã nhận được Thông báo nộp tiền tạm ứng án phí vào ngày 30/6/2022. Nhưng tính đến ngày Tòa án đưa vụ án ra xét xử thì chị vẫn chưa nộp số tiền tạm ứng án phí theo yêu cầu của Tòa án và cũng không đưa ra được chứng cứ chứng minh việc chậm nộp. Cho nên Hội đồng xét xử không xem xét trong cùng vụ án. Nếu như chị có yêu cầu giải quyết về tài sản chung của vợ chồng thì Tòa án sẽ xem xét và giải quyết bằng vụ án khác.

Về án phí: Nguyên đơn anh Nguyễn Văn Th phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.

Về ý kiến phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Hện Th Chương, tỉnh Nghệ An tại phiên tòa. Xét thấy việc tuân theo quy định pháp luật và các nội dung liên quan đến việc giải quyết vụ án là có cơ sở, đúng quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng: Điều 28, Điều 35, Điều 147, Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, nộp và quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án xử:

Về quan hệ hôn nhân: anh Nguyễn Văn Th được ly hôn chị Mông Thị D

Về trách nhiệm nuôi con:

Giao cháu Nguyễn Văn N, sinh ngày 28 tháng 11 năm 2008 cho anh Nguyễn Văn Th trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Nguyễn Gia H, sinh ngày 24 tháng 3 năm 2014 cho chị Mông Thị D trực tiếp nuôi dưỡng. Không bên nào phải góp cấp dưỡng nuôi con cho nhau

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghÜa vô thăm nom con mà không ai được quyền cản trở người đó thực hiện quyền này.

Về chia tài sản chung và nợ: Không xem xét

Về án phí: Buộc anh Nguyễn Văn Th phải chịu 300.000 đồng ( ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ly hôn sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0009116 ngày 18 tháng 5 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự Hện Th Chương, tỉnh Nghệ An. Anh Nguyễn Văn Th đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hiền Lƣơng Nguyễn Thị Ngọc Điệp

Thái Trƣờng Giang

Cỡ chữ