vanban.org

Bản án 132/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Quốc hội ngày 30/12/2016.

Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thảo L: cho chị Nguyễn Thị Thảo L được ly hôn với anh Nguyễn Văn S. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "BẢN ÁN HNGĐST LY- SANG"
  • Tòa quyết gì? Quốc hội ngày 30/12/2016.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆNCHÂU THÀNH
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bảnán số:132/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 17/3/2022
V/v Tranh chấp Ly hôn
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Tường;
Các Hội thẩm nhân dân:
1.Ông Nguyễn Đức Duy
2.Bà Huỳnh Thị Ngọc Thuận
Thành
Kiểm sát viên
thẩm công khai vụ án thụ lý số 217/2021/TLST-HNGĐ ngày 09/04/2021 “Tranh chấp ly
hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 10/02
/2022,Quyết định hoãn phiên tòa số 18/2022/QĐST-HNGĐ ngày 28/02/2022 giữa các
đương sự:
1. Nguyên đơn: Nguyễn Thị Thảo L, sinh năm 1990
Địa chỉ: Thôn TA, xã MC, huyện PM, tỉnh Bình Định
2.Bị đơn: Nguyễn Văn S sinh năm 1993
Địa chỉ: ấp VH xã VK, CT, tỉnh Tiền Giang.
(Chị L có đơn xin vắng mặt tại phiên toà, anh S vắng mặt tại phiên tòa)
Ngày 17 tháng 3 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Tại đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thảo L trình bày:

Chị L và anh S chung sống vợ chồng vào năm 2012,có đăng ký kết hôn tại Ủy ban

nhân dân xã Phú Phong, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 04 ngày 10/02/2014. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống hạnh phúc đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, hiện đã ly thân từ cuối năm 2016 đến nay. Do mâu thuẫn kéo dài mặc dù cố gắng hàn gắn nhiều lần nhưng không có kết quả, tình cảm vợ chồng không còn nên chị L xin Tòa án giải quyết ly hôn với anh S.Về con chung có 01 con chung tên Nguyễn Thị Hải A

- 2 -

sinh ngày 31/12/2012, hiện sống với chị L, khi ly hôn chị L xin trực tiếp nuôi dưỡng cháu Hải A, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung không có, không yêu cầu Tòa án xem xét giải

quyết.

* Bị đơn anh Nguyễn Văn S vắng mặt tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp,

tiếp cận, công khai chứng cứ, các buổi hòa giải và tại phiên tòa, không có bản tự khai cũng như ý kiến trình bày đối với yêu cầu ly hôn của chị L

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

* Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra

cũng như tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Chị L và anh S kết hôn vào năm 2012,có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân

dân xã Phú Phong, huyện Châu Thành,tỉnh Tiền Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số 04 ngày 10/02/2014. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống hạnh phúc đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng nguyên nhân theo chị L trình bày là do vợ chồng bất đồng quan điểm hiện đã ly thân từ cuối năm 2016 đến nay. Do thấy không còn tình cảm nên chị L làm đơn xin ly hôn với anh S. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa chị L và anh S là hôn nhân hợp pháp. Nay, chị L xin ly hôn với anh S nên được xem xét giải quyết theo quy định Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình.

Xét yêu cầu xin ly hôn của chị L:

Chị L có đơn xin vắng mặt tại trong quá trình giải quyết và có đơn khởi kiện yêu

cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh S lý do giữa chị An và anh Trung phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm hiện đã ly thân từ cuối năm 2016 đến nay,giữa hai vợ chồng không còn tình cảm, không có khả năng hàn gắn. Xét thấy cuộc sống hôn nhân giữa chị L và anh S đã có phát sinh mâu thuẫn từ năm 2016 và đã đến mức trầm trọng, hiện anh chị đã ly thân từ cuối năm 2016 đến nay. Anh S trong suốt quá trình giải quyết của Tòa án từ giai đoạn hòa giải cho đến khi xét xử đều vắng mặt không lý do và cũng không có ý kiến trình bày đối với yêu cầu ly hôn chứng tỏ anh S không còn tình cảm và không quan tâm đến chị L, cũng không có ý kiến hay biện pháp gì để hàn gắn tình cảm với chị L. Do đó có cơ sở xác định mâu thuẫn giữa chị L và anh S là trầm trọng, không có khả năng hàn gắn, nên xét thấy có cơ sở chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị L theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: 01 con chung tên là Nguyễn Thị Hải A sinh ngày 31/12/2012, khi

ly hôn chị L xin trực tiếp nuôi dưỡng cháu Âu, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.Xét thấy từ khi ly thân cho đến nay cháu Âu sống với chị L được chị L chăm sóc tốt, chị L cũng có nghề nghiệp công nhân, thu nhập ổn định, tại bản ý kiến của cháu Âu cháu cũng có nguyện vọng xin sống chung với mẹ do đó cần giao cháu Âu cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng là đảm bảo điều kiện cho cháu Âu phát triển toàn diện về tinh thần và thể chất và không làm ảnh hưởng cuộc sống ổn định của cháu Âu. Chị L không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên không đặt ra xem xét giải quyết về vấn đề cấp dưỡng.

- 3 -

Về tài sản chung:chị Ly trình bày không có, không yêu cầu Tòa án xem xét do đó

Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Về nợ chung: chị L trình bày không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án xem xét

giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí:

Chị L phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu:

Thẩm phán và Hội đồng xét xử tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự

trong quá trình giải quyết vụ án. Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.Bị đơn chưa chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án,đề nghị áp dụng các Điều 53,56, 81,82,83 Luật hôn nhân và gia

đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị L về việc xin ly hôn với anh S, về con chung đề nghị giao con chung cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng, anh S không cấp dưỡng nuôi con do không yêu cầu,về tài sản chung và nợ chung không đặt ra xem xét giải quyết do không yêu cầu, đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân gia đình;

- Căn cứ Điều 227, Điều 228, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ

Quốc hội ngày 30/12/2016.

Xử:

- Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thảo L: cho chị

Nguyễn Thị Thảo L được ly hôn với anh Nguyễn Văn S.

- Về con chung:

Giao cháu Nguyễn Thị Hải A sinh ngày 31/12/2012 cho chị Nguyễn Thị Thảo L

trực tiếp nuôi dưỡng, anh S không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Sau khi ly hôn, anh S có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản

trở.

- Về án phí:

Chị Nguyễn Thị Thảo L phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ

thẩm, được khấu trừ với số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ

- 4 -

thẩm chị L đã nộp theo biên lai thu số 0004184 ngày 07/4/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành nên xem như chị L đã nộp xong án phí.

Chị L,anh Sang có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày

nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ