vanban.org

Bản án 132/2021/HSST — Hình sự

TAND TP. Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 02/03/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Đình C phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”

Xử phạt: Đỗ Đình C 12 (Mười hai) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 24 (Hai mươi bốn) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND phường B, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý làm hư hỏng tài sản - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Đình C phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THANH HÓA
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 132/2021/HSST
Ngày: 02/3/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA V NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ, TỈNH THANH HOÁ

ơ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Nguyệt

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Phương Nga;

2. Ông Lê Cát Tưởng.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Duy Ninh - Thư ký Tòa án nhân dân

thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện VKSND thành phố Thanh Hoá tham gia phiên toà:

Ông Nguyễn Văn Quang - Kiểm sát viên

Ngày 02 tháng 03 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 139/2021/TLST-HS ngày 18 tháng 01 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 149 /2021/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 02 năm 2021 đối với:

1. Bị cáo: Đỗ Đình C, sinh năm 1982, Tại Thanh Hóa. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: T, phường B, thành phố T; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: V Nam; con ông Đỗ Văn S và bà Đặng Thị Q; có vợ Đinh Thị M2, có 03 con lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2013; Tiền án: không; tiền sự: không; Nhân thân: Năm 2016 bị Công an phường Đông Thọ, thành phố Thanh Hóa xử phạt hành chính về hành vi “Đánh bạc”. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

2. Bị hại: Bà Lê Thị M – Sinh năm 1968 (Vắng mặt)

Địa chỉ: L, phường Đ, thành phố T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 30 phút, ngày 04/7/2020, Trịnh Đức T – SN 1991 trú tại T, phường Đ, thành phố T(là con rể bà Lê Thị M) đến nhà bà Lê Thị M sinh năm 1968 tại L, phường Đ, thành phố T thì gặp Đỗ Đình C, Đinh Văn T2 sinh năm 1984 trú tại P, phường P, thành phố T, Đào Công V sinh năm 1969 và Đào Công Q sinh năm 1981 đều trú tại L, phường Đ, thành phố T đang uống bia; C mời T uống bia nhưng T từ chối nên C to tiếng với T rồi xảy ra xô xát giữa C, T với gia đình T làm T bị thương. Sau khi được mọi người can ngăn, gia đình T vào nhà đóng cửa, C gọi người nhà đưa T đi điều trị. Do tức giận nên C đã quay lại dùng gạch đá ném vào nhà bà M và làm hư hỏng một số tài sản sau:

- 01 (một) tivi nhãn hiệu Samsung 49 inch bị bong viền màn hình.

- 04 (bốn) ghế nhựa Songlong bị gãy vỡ.

- 01 (một) tủ nhôm kính kích thước (91x90x28)cm bị vỡ kính.

- 09 (chín) ô kính cửa sổ và cửa ra vào bị vỡ hoàn toàn.

Tại Kết luận định giá tài sản số 288/KL-HĐĐGTS ngày 14/8/2020, Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự của UBND TP Thanh Hóa kết luận: giá trị tài sản bị thiệt hại của gia đình bà Lê Thị M là 4.255.000 đồng.

Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Thanh Hóa đã tiến hành thu thập dữ liệu hình ảnh camera của gia đình bà M, kết quả:

Tại kết luận giám định số 7011/C09-P6 ngày 30/12/2020 của Viện khoa học hình sự - Bộ công an kết luận: thẻ nhớ lắp trong Camera an ninh nhà bà Lê Thị M bị lỗi định dạng, không hoạt động bình thường, phục hồi được 08 tập video. Tuy nhiên, kiểm ra 08 tệp video trên không ghi lại hình ảnh diễn biến sự việc liên quan đến vụ án.

Về vật chứng:

- Cơ quan CSĐT đã trả 01 (một) ti vi Samsung 49 inch bị bong viền và 04 (bốn) ghế nhựa Songlong bị gãy đã được trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là bà Lê Thị M

- Đối với ½ viên gạch nung kích thước (11x10x5)cm; 01 (một) viên gạch nung kích thước (20x10x6)cm, 01 (một) viên gạch nung kích thước (21x10x5,5)cm và 01 (một) viên đá kích thước (11x7x5)cm và các mảnh vỡ kính kích thước khác nhau mô tả trong biên bản khám nghiệm hiện trường chuyển Chi cục thi hành án dân sự Thành phố Thanh Hóa để giải quyết quy định của pháp luật.

Về dân sự: Đỗ Đình C đã bồi thường số tiền 10.000.000 đồng cho bà Lê Thị M nên bà M không yêu cầu gì thêm về mặt dân sự.

Tại bản cáo trạng số 37/CTr-VKS ngày 15/01/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hoá truy tố bị cáo Đỗ Đình C về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo qui định tại khoản 1 Điều 178 của BLHS. Tại phiên tòa trong phần luận tội đại diện VKSND thành phố Thanh Hóa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 178; điểm b, s, i khoản 1,2 Điều 51; khoản 1,2,5 Điều 65 BLHS năm 2015. Xử phạt: Đỗ Đình C mức án từ 12 (Mười hai) tháng đến 15 (Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng.

Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy ½ viên gạch nung kích thước (11x10x5)cm; 01(một) viên gạch nung kích thước (20x10x6)cm, 01 (một) viên gạch nung kích thước (21x10x5,5)cm và 01 (một) viên đá kích thước (11x7x5)cm và các mảnh vỡ kính kích thước khác nhau.

Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và không có ý kiến tranh luận, lời nói sau cùng bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về tội danh: Tại phiên tòa một lần nữa bị cáo thừa nhận: Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 04/7/2020, tại L, phường Đ, thành phố T, do có sự mâu thuẫn xích mích giữa anh vợ bị cáo là Đinh Văn T2 và anh Trịnh Đức T (con rể bà M) dẫn đến hai bên đánh nhau, thấy T bị thương, Đỗ Đình C dùng gạch đá ném vào nhà bà Lê Thị M làm hư hỏng một số tài sản trị giá 4.255.000đồng (Bốn triệu hai trăm năm mươi lăm nghìn đồng).

. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà thống nhất với lời khai bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác như: Báo cáo của bị hại, lời khai của người làm chứng cùng các vật chứng thu giữ, và một số chứng cứ khác phản ánh trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử thấy rằng hành vi nêu trên của bị cáo có đủ dấu hiệu cấu thành tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” , tội danh và khung hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 178 BLHS năm 2015. Vì vậy, VKSND thành phố Thanh Hóa truy tố bị cáo và Cơ quan điều tra khởi tố bị cáo về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 BLHS năm 2015 là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội nêu trên của bị cáo Đỗ Đình C là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự xã hội, cần phải được xử lý nghiêm trước pháp luật.

. Xét tính chất vụ án: Giữa bị cáo và bị hại không có mâu thuẫn gì chỉ vì xích mích mâu thuẫn nhỏ giữa bị cáo và những người bạn của bị cáo với anh T là con rể bị hại, bị cáo đã dùng gạch đá ném vào nhà bị hại gây hậu quả làm hư hỏng tài sản của bị hại trị giá 4.255.000 đồng. Do vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với hành vi hậu quả bị cáo gây ra.

. Quá trình điều tra xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho bị hại số tiền 10.000.000 đồng để khắc phục hậu quả tài sản thiệt hại do bị cáo gây ra. Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị hại có đơn đề nghị xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Do vậy khi xem xét hình phạt đối với bị cáo cũng cần áp dụng điểm b,s,i khoản 1,2 Điều 51 BLHS năm 2015 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

. Bị cáo chưa tiền án, tiền sự, hành vi mang tính bột phát, phạm tội lần đầu, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1,2 Điều 51 BLHS, có nơi cư trú rõ ràng. Xét không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng khoản 1,2,5 Điều 65 BLHS cho bị cáo được cải tạo tại nơi cư trú dưới sự giám sát của chính quyền địa phương để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà cải tạo thành công dân có ích cho xã hội.

. Về trách nhiệm dân sự: Trị giá tài sản bị cáo làm hư hỏng của bị hại theo định giá là 4.255.000đồng. Bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 10.000.000. Bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho bị hại số tiền 10.000.000 đồng, bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm, nên chấp nhận và công nhận phần dân sự đã được giải quyết xong.

. Về vật chứng: Đối với ½ viên gạch nung kích thước (11x10x5)cm; 01 (một) viên gạch nung kích thước (20x10x6)cm, 01 (một) viên gạch nung kích thước (21x10x5,5)cm và 01 (một) viên đá kích thước (11x7x5)cm và các mảnh vỡ kính kích thước khác nhau, bị cáo dùng vào việc phạm tội, hiện không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy. Hiện vật chứng trên đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định tại khoản 2 Điều 136 BLTTHS và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 178; điểm b, s,i khoản 1,2 Điều 51; khoản 1,2,5 Điều 65 BLHS; khoản 1, điểm a,c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14.

Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Đình C phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”

Xử phạt: Đỗ Đình C 12 (Mười hai) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 24 (Hai mươi bốn) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo cho UBND phường B, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án HS.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Về trách nhiệm dân sự: Công nhận phần dân sự giữa bị cáo với bị hại đã được giải quyết xong.

Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy ½ viên gạch nung kích thước (11x10x5)cm; 01 (một) viên gạch nung kích thước (20x10x6)cm, 01 (một) viên gạch nung kích thước (21x10x5,5)cm và 01 (một) viên đá kích thước (11x7x5)cm và các mảnh vỡ kính kích thước khác nhau. Hiện vật chứng trên đang được lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa theo biên bản giao nhận vật chứng số 110/THA ngày 01/3/2021 giữa Công an thành phố Thanh Hóa và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.

Người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án khoản tiền án phí HSST theo quy định tại các Điều 7, 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án./.

Cỡ chữ