vanban.org

Bản án 132/2021/HNGĐ-ST — Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xác định anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1983; địa chỉ: Thôn Núi 2, xã Thủy Đường, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng là cha đẻ của con do chị Quang Thị N sinh ra ngày 31 tháng 5 năm 2021, dự định đặt tên con là Nguyễn Đức Huy theo Giấy chứng sinh số 0767/2021/BVTN-GCS ngày 31 thá…

Về án phí: Anh Nguyễn Văn T phải chịu 300.000 đồng (B trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Về quyền kháng cáo: Chị Quang Thị N và anh Nguyễn Văn T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Vi Văn B có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án do Tòa án tống… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "Ngo Tung"
  • Tòa quyết gì? Xác định anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1983; địa chỉ: Thôn Núi 2, xã Thủy Đường, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng là cha đẻ của con do chị Quang Thị N sinh ra ngày 31 tháng 5 năm 2021, dự định đặt tên con là Nguyễn Đức Huy theo Giấy chứng sinh số 0767/2021/BVTN-GCS ngày 31 thá…
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THUỶ NGUYÊN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 132/2021/HNGĐ-ST
Ngày 28-7-2021
V/v tranh chấp về xác định cha cho con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN,THÀNH PHỐHẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hà

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hoàng Đức Cảnh

Ông Bùi Đức Khoa

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 7 năm 2021 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 251/2021/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 6 năm 2021 về việc xác định cha cho con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 126/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 7 năm 2021 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Quang Thị N; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Bản Th, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An; nơi ở hiện nay: Thôn N, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng. Có mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T; địa chỉ: Thôn N, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Vi Văn B; địa chỉ: Bản M, thị trấn T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt (có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 15 tháng 6 năm 2021 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Quang Thị N trình bày:

Chị Quang Thị N và anh Nguyễn Văn T quen nhau và nảy sinh tình cảm từ năm 2020. Trong thời gian hai bên có quan hệ tình cảm thì chị N đã có chồng là anh Vi Văn B, sinh năm 1983; địa chỉ: Bản Mon, thị trấn Thạch Giám, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An. Do mâu thuẫn vợ chồng, chị và anh B đã sống ly thân nhau từ năm 2019 đến năm 2021 thì ly hôn theo Quyết định số 38/2021/QĐST-HNGĐ ngày 31/5/2021 của Tòa án nhân dân huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An. Trong thời gian có quan hệ tình cảm chung sống với anh T, chị N đã mang thai và sinh một con trai vào ngày 31 tháng 5 năm 2021, dự định đặt tên con là Nguyễn Đức Huy theo Giấy chứng sinh số 0767/2021/BVTN-GCS của Bệnh viện đa khoa huyện Thủy Nguyên. Ngày 07 tháng 6 năm 2021 chị và anh Nguyễn Văn T đã đăng ký kết hôn tại Ủy Bn nhân dân xã Thủy Đường, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng nhưng chưa đăng ký khai sinh được cho con. Để đảm bảo quyền lợi cho con, chị N đề nghị Tòa án xác định anh Nguyễn Văn T là cha đẻ của cháu Nguyễn Đức Huy do chị N sinh ra ngày 31 tháng 5 năm 2021.

Tại bản tự khai ngày 21 tháng 6 năm 2021 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Nguyễn Văn T trình bày:

Anh Nguyễn Văn T thừa nhận có quan hệ tình cảm và có con chung với chị Quang Thị N là cháu bé do chị N sinh ra ngày 31 tháng 5 năm 2021, dự định đặt tên là Nguyễn Đức Huy theo Giấy chứng sinh số 0767/2021/BVTN-GCS của Bệnh viện đa khoa huyện Thủy Nguyên. Từ khi sinh ra đến nay cháu Nguyễn Đức Huy ăn ở, sinh sống cùng với anh T và chị N tại xã Thủy Đường, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Anh T đề nghị Tòa án căn cứ quy định của pháp luật xác định anh là cha đẻ của cháu Nguyễn Đức Huy.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Vi Văn B vắng mặt tại phiên tòa nhưng có Bản tự khai ngày 25 tháng 6 năm 2021 thể hiện:

Anh Vi Văn B kết hôn với chị Quang Thị N vào năm 2010. Do mâu thuẫn anh và chị N sống ly thân nhau từ năm 2019 đến cuối tháng 5 năm 2021 thì ly hôn. Anh B và chị N có hai con chung là cháu Vi Xuân Hải, sinh ngày 11 tháng 12 năm 2011 và Vi Thị Phương Di, sinh ngày 04 tháng 3 năm 2013. Nay chị Quang Thị N yêu cầu Tòa án xác định anh Nguyễn Văn T là cha đẻ của cháu Nguyễn Đức Huy do chị N sinh ra ngày 31 tháng 5 năm 2021, anh B không có ý kiến gì và xác định đây không phải là con chung của anh và chị N. Do anh B đang cai nghiện ma túy bắt buộc tại Trung tâm cai nghiện ma túy Phúc Sơn, tỉnh Nghệ An nên anh đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tiến hành giải quyết vụ án theo đúng trình tự thủ tục do pháp luật quy định. Nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 72, Điều 73 và Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án: Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 4 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 88, Điều 89, Điều 91, Điều 101, Điều 102 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy Bn Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xác định anh Nguyễn Văn T là cha đẻ của cháu Nguyễn Đức Huy, sinh ngày 31 tháng 5 năm 2021 theo Giấy chứng sinh số 0767/2021/BVTN-GCS của Bệnh viện đa khoa huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Anh Nguyễn Văn T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Các tài liệu, chứng cứ do đương sự cung cấp và Tòa án thu thập gồm: Bản sao Giấy chứng minh nhân dân, bản sao sổ hộ khẩu, bản sao Giấy chứng sinh số 0767/2021/BVTN-GCS ngày 31/5/2021 của Bệnh viện đa khoa huyện Thủy Nguyên, bản sao Giấy chứng nhận kết hôn, bản phô tô Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 38/2021/QĐST-HNGĐ ngày 31/5/2021 của Tòa án nhân dân huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An; Bản Kết luận giám định số 79/2021/GĐSH ngày 28/6/2021 và bản ảnh nhận dạng 02 cá thể giám định ADN xác định quan hệ huyết thống bố - con của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an thành phố Hải Phòng; Biên bản xác minh tại Ủy Bn nhân dân xã Thủy Đường, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp về xác định cha cho con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 4 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại thời điểm Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, bị đơn là anh Nguyễn Văn T đang cư trú tại xã Thủy Đường, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Vi Văn B vắng mặt tại phiên tòa và có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh Vi Văn B.

Về yêu cầu xác định cha cho con của nguyên đơn: Lời trình bày của nguyên đơn và bị đơn đều thống nhất nội dung anh Nguyễn Văn T là cha đẻ của cháu Nguyễn Đức Huy, sinh ngày 31 tháng 5 năm 2021. Tại Kết luận giám định số 79/2021/GĐSH ngày 28 tháng 6 năm 2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an thành phố Hải Phòng đã kết luận: Anh Nguyễn Văn T và cháu bé do chị Quang Thị N sinh ra ngày 31/5/2021 được lấy mẫu giám định có quan hệ huyết thống trực hệ bố - con (Độ tin cậy PI >99%). Do đó, có căn cứ để chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, xác định anh Nguyễn Văn T là cha đẻ của con do chị Quang Thị N sinh ra ngày 31 tháng 5 năm 2021 dự định đặt tên con là Nguyễn Đức Huy, theo Giấy chứng sinh số 0767/2021/BVTN-GCS ngày 31 tháng 5 năm 2021 của Bệnh viện đa khoa huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng là phù hợp với các Điều 88, 89, 90, 91 và Điều 102 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về án phí: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy Bn Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị đơn là anh Nguyễn Văn T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 4 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 88, Điều 89, Điều 90, Điều 91, Điều 101 và Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy Bn Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

1. Xác định anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1983; địa chỉ: Thôn Núi 2, xã Thủy Đường, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng là cha đẻ của con do chị Quang Thị N sinh ra ngày 31 tháng 5 năm 2021, dự định đặt tên con là Nguyễn Đức Huy theo Giấy chứng sinh số 0767/2021/BVTN-GCS ngày 31 tháng 5 năm 2021 của Bệnh viện đa khoa huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.

2. Về án phí: Anh Nguyễn Văn T phải chịu 300.000 đồng (B trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Chị Quang Thị N và anh Nguyễn Văn T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Vi Văn B có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án do Tòa án tống đạt hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ