vanban.org

Bản án 132/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 15/09/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Anh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Hình phạt chính: Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt: Bị cáo Nguyễn Anh T 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/6/2020. Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Anh T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Anh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TAND THỊ XÃ PHỔ YÊN
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 132/2020/HS-ST
Ngày: 15/9/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Toàn.

Các hội thẩm nhân dân:

1. Bà Đỗ Thị Hồng Khánh.

2. Ông Tạ Văn Tiến.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Anh Tuấn - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Đào Việt Yên - Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 15/9/2020, tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số: 131/2020/TLST-HS ngày 01/9/2020; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 136/2020/QĐXXST-HS ngày 01/9/2020 đối với bị cáo:

Nguyễn Anh T (tên gọi khác: Không), sinh năm 1998.

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Tổ dân phố Tân Thành, phường Đồng Tiến, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đức Kh (đã chết) và bà Nguyễn Thị T; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/6/2020 cho đến nay hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên. Có mặt.

* Người chứng kiến:

1. Ông Nguyễn Văn Tâm, sinh năm 1970; trú tại: Tổ dân phố Thái Bình, phường Đồng Tiến, thị xã Phổ Yên, Thái Nguyên. Vắng mặt.

2. Anh Triệu Văn Nghĩa, sinh năm: 1995; trú tại : xóm Vụ Tây, xã Quân Chu, huyện Đại Từ, Thái Nguyên. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 16 giờ 40 phút ngày 23/06/2020 tại đoạn đường Công nghiệp 1 gần Cổng số 1 Công ty TNHH Sam Sung Electronic Việt Nam Thái Nguyên (SEVT) thuộc tổ dân phố An Bình, phường Đồng Tiến, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, tổ công tác Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Phổ Yên phát hiện Nguyễn Anh T có biểu hiện nghi vấn tàng trữ trái phép chất ma túy đang ngồi bên trong xe ô tô, Biển kiểm soát: 20A- 29711 của hãng taxi Bình An do lái xe là Triệu Văn Nghĩa, sinh năm 1995, nơi cư trú: xóm Vụ Tây, xã Quân Chu, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên đang dừng đỗ tại địa điểm trên. Tiến hành kiểm tra T tự lấy từ trong túi quần bên phải đang mặc giao nộp cho Tổ công tác 01 gói nilon màu vàng, bên trong có 01 gói giấy màu vàng, bên trong gói giấy màu vàng có 04 viên nén màu xám; 01 túi nilon đựng chất bột màu trắng và 01 túi nilon đựng 01 viên nén màu xanh. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang đối với Tuấn, niêm phong số vật chứng thu giữ đưa về Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Phổ Yên giải quyết theo thẩm quyền.

Vật chứng của vụ án thu giữ gồm: 04 viên nén màu xám; 01 túi nilon đựng chất bột màu trắng; 01 túi nilon đựng 01 viên nén màu xanh.

Hồi 20 giờ 30 phút cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Phổ Yên đã tiến hành cân trọng lượng không bì tại Phòng PC09 - Công an tỉnh Thái Nguyên xác định: 04 viên nén màu xám có khối lượng (trọng lượng) 1,646 gam (tiếp tục niêm phong ký hiệu H); 01 túi nilon đựng chất bột màu trắng có khối lượng (trọng lượng) 0,476gam (tiếp tục niêm phong ký hiệu K); 01 túi nilon đựng 01 viên nén màu xanh có khối lượng (trọng lượng) 0,359 gam (tiếp tục niêm phong ký hiệu L) gửi giám định.

Tại bản kết luận giám định số 4107 /C09 – TT2 ngày 02/07/2020 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an, Kết luận: 04 viên nén màu xám và 01 viên nén màu xanh thu giữ của Nguyễn Anh T là chất ma túy, loại MDMA, có khối lượng là: 2,005 gam; Chất bột màu trắng thu giữ của Nguyễn Anh Tuấn là chất ma túy, loại Ketamine, có khối lượng là 0,476 gam.

Quá trình điều tra Nguyễn Anh T khai nhận: Do bản thân nghiện chất ma túy nên khoảng 08 giờ ngày 23/6/2020 Tuấn mua 05 viên ma túy loại “kẹo” và 01 túi ma túy loại “ke” của người nam giới tên Công tại cổng trào xã Nam Tiến, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên (T không rõ địa chỉ cụ thể của người này). T mua với giá 2.700.000 đồng. Đến khoảng 16 giờ 20 phút ngày 23/6/2020, T đi xe taxi từ nhà thuộc tổ dân phố Tân Thành, phường Đồng Tiến, đến đường công nghiệp 1 đối diện cổng số 1 Công ty Samsung Thái Nguyên thuộc tổ dân phố An Bình, phường Đồng Tiến, thị xã Phổ Yên để gặp bạn. Đến địa điểm trên T ngồi chờ bạn trên xe taxi thì bị lực lượng Công an yêu cầu kiểm tra, T đã tự lấy từ trong túi quần bên phải đang mặc ra giao nộp cho lực lượng Công an số ma túy trên. Mục đích T mua ma túy là để sử dụng cho bản thân, ngoài ra không có mục đích gì khác.

Tại bản cáo trạng số 143/CT-VKSPY ngày 31/8/2020, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Nguyễn Anh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với vật chứng đã bị thu giữ.

Kết thúc phần thẩm vấn, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Anh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Anh T mức án từ 30 - 36 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị tịch thu tiêu huỷ số ma túy thu giữ còn lại sau giám định của bị cáo và vỏ bao gói kèm theo.

Về án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Buộc bị cáo Nguyễn Anh T phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định.

Trong phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận thừa nhận nội dung truy tố, xét xử là đúng người, đúng tội, không oan sai. Lời nói sau cùng, bị cáo xin được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Phổ Yên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phổ Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Những người chứng kiến và người làm chứng đã được triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do, kiểm sát viên, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vắng mặt những người chứng kiến và người làm chứng. Xét việc những người chứng kiến và người làm chứng vắng mặt nhưng trong hồ sơ đã có lời khai của họ nên sự vắng mặt họ không gây trở ngại cho quá trình xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét căn cứ Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự xét xử vắng mặt họ theo quy định của pháp luật.

Về hành vi phạm tội: Lời khai nhận của bị cáo là hoàn toàn khách quan, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác thu thập được trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Hồi 16 giờ 40 phút ngày 23/6/2020 tại đoạn đường Công nghiệp 1, Cổng số 1 Công ty TNHH Sam Sung Electronic Việt Nam Thái Nguyên (SEVT) thuộc tổ dân phố An Bình, phường Đồng Tiến, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, Nguyễn Anh T có hành vi tàng trữ trái phép hai chất chất ma túy bao gồm: loại MDMA, có khối lượng là: 2,005 gam; loại Ketamine, có khố lượng là 0,476 gam, mục đích sử dụng cho bản thân thì bị bắt quả tang.

Hành vi, ý thức của bị cáo Nguyễn Anh T đã thỏa mãn đầy đủ các yếu tố cấu thành của tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó cáo trạng số 143/CT-VKSPY ngày 31/8/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Nguyễn Anh T là hoàn toàn đúng người, đúng tội, không oan.

Nội dung Điều 249 quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a)....

i) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này"

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”.

Xét tính chất vụ án: Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, gây mất trật tự, an ninh tại địa phương. Do đó việc đưa ra xét xử đối với bị cáo là cần thiết để răn đe và phòng ngừa chung.

Xét các yếu tố về nhân thân và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về nhân thân: Bị cáo được gia đình nuôi ăn học đến hết lớp 12/12 thì nghỉ học ở nhà lao động tự do, do không chịu tu dưỡng, rèn luyện để trở thành công dân có ích cho xã hội trái lại mắc nghiện ma túy đã dẫn bị cáo đến con đường phạm tội.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Khi lượng hình Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy nên cần có bản án buộc cách ly bị cáo khỏi đời sống một thời gian nhất định nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt xem xét cho bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, bố mất sớm, hoàn cảnh gia đình khó khăn bản thân mới mắc nghiện ma túy để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo yên tâm cải tạo mau chóng trở về với gia đình và xã hội làm người công dân có ích cho xã hội.

Mức án mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa đối với bị cáo xét thấy là phù hợp được chấp nhận.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp ổn định, mục đích mua ma túy về sử dụng không có mục đích mua, bán nên miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Số ma túy thu giữ của bị cáo và các bao bì kèm theo còn lại sau giám định không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định.

Các vấn đề khác: Trong vụ án này theo lời khai của Nguyễn Anh T còn có đối tượng (không rõ địa chỉ cụ thể) là người đã bán ma túy cho Nguyễn Anh T tại cổng trào xã Nam Tiến, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên và người nam giới T khai ngồi trên xe taxi để đợi bạn (không rõ tên tuổi, địa chỉ cụ thể) để lấy đồ đặt trên mạng tại đoạn đường Công nghiệp 1 gần Cổng Công ty SVT không rõ là ai nên Cơ quan điều tra Công an thị xã Phổ Yên tiếp tục thu thập tài liệu, chứng cứ điều tra xử lý sau.

Đối với Triệu Văn Nghĩa, quá trình điều tra xác định Nghĩa không biết và không tham gia cùng với T tàng trữ trái phép chất ma túy nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý và trả lại cho Công ty trách nhiệm hữu hạn dịch vụ taxi Miền Bắc (Chủ sở hữu hợp pháp) quản lý sử dụng chiếc xe mô tô biển kiểm soát 20A- 29711.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Anh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

1. Hình phạt chính: Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt: Bị cáo Nguyễn Anh T 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/6/2020.

Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự: Quyết định tạm giam bị cáo Nguyễn Anh T 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

2. Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong dán kín số 4107/C099 (TT2) của Viện khoa học Hình sự - Bộ Công an, hoàn lại các mẫu ký hiệu lần lượt H, K, L còn lại sau giám định và vỏ bao mẫu; 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu M, bên trong có lưu vỏ bao mẫu niêm phong thu giữ khi bắt quả tang Nguyễn Anh T.

(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thị xã Phổ Yên và Chi cục thi hành án dân sự thị xã Phổ Yên ngày 08/92020)

4. Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Anh T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung vào Ngân sách Nhà nước.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015. Bị cáo Nguyễn Anh T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ