vanban.org

Bản án 132/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 29/06/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1 Tuyên bố bị cáo Bùi Quang V (Tên gọi khác: Q) phạm tội “Trộm cắp tài sản” và “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

2 Xử phạt bị cáo Bùi Quang V (Tên gọi khác: Q) 10 (mười) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 10 (mười) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung là 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù; Thời hạn tù tính từ ngày 23/3/2020. Buộc bị cáo Bùi Quan… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Quang V phạm tội trộm cắp tài sản và lừa đảo chiếm đoạt tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
  • Tòa quyết gì? 1 Tuyên bố bị cáo Bùi Quang V (Tên gọi khác: Q) phạm tội “Trộm cắp tài sản” và “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 174 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẢNG BOM
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 132/2020/HS-ST
Ngày: 29 - 6 - 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Bích Liễu.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Xuân Dậu và bà Đào Thị Giang.

- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Hà - Thư ký Toà án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Vòng A Chi - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 137/2020/TLST-HS ngày 02 tháng 6 năm 2020 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 131/2020/QĐXXST-HS ngày 16/6/2020 đối với bị cáo:

Bùi Quang V (Tên gọi khác: Q), sinh ngày 16/12/1997 tại Hải Dương; Nơi cư trú: Thôn An Điềm B, xã A, huyện B, tỉnh C; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Quang V1, sinh năm 1973 và bà Phạm Thị V2, sinh năm 1977; Chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị giam giữ từ ngày 23/3/2020 đến nay. (có mặt)

- Bị hại:

1. Bà Trần Lồng K, sinh năm 1981; Cư trú: Ấp Tân Thành, xã D, huyện T, tỉnh Đ. (vắng mặt)

2. Ông Nguyễn Cảnh C, sinh năm 1979; Địa chỉ: Đội 4, ấp Tây Kim, xã Đ, huyện T2, tỉnh Đ. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 11 giờ 30 phút ngày 19/12/2019 tại nhà của chị Trần Lồng K thuộc ấp Tân Thành, xã D, huyện T, tỉnh Đ, Bùi Quang V (là người làm thuê cho chị K từ ngày 10/12/2019) thấy chị K đi ra khỏi nhà nên V nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của chị K lấy tiền tiêu xài. Trong lúc các công nhân đang làm việc bên ngoài không để ý, V lén lút đi vào trong nhà chị K, đến mở cửa phòng ngủ (do cửa phòng không khóa) đi vào trong phòng tìm tài sản trộm cắp. V nhìn thấy trong phòng ngủ có 01 cái tủ bằng nhựa đặt ở góc phòng, ngăn tủ trên cùng bị khóa, không mở được nên V đi ra khu vực bếp lấy 01 cái kéo bằng sắt dài khoảng 15cm, màu đen, mũi nhọn sau đó quay lại phòng ngủ. V dùng kéo cạy chốt khóa mở ngăn tủ lấy trộm 01 cọc tiền (loại tiền mệnh giá 100.000 đồng, 50.000 đồng) và lấy 01 máy tính bảng nhãn hiệu APPLE IPAD 3 để trên bàn đem ra cất giấu vào giỏ xách đựng quần áo của mình. Sau khi trộm cắp tài sản của chị K thì V nảy sinh ý định chiếm đoạt xe môtô của anh Nguyễn Cảnh C (là công nhân đang làm tại nhà chị K) để bỏ trốn về quê tại tỉnh Hải Dương nên V đi ra gặp anh C hỏi mượn xe môtô để đi mua cơm, anh C đồng ý và giao xe môtô nhãn hiệu Honda Dream biển số 60F5-3792 cho V. Sau khi lấy được xe môtô của anh C, trên đường bỏ trốn V nảy sinh ý định bán xe môtô của anh C. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, khi đến khu vực tỉnh Bình Thuận, V đã bán xe môtô của anh C cho người đàn ông không quen biết là chủ tiệm thu mua phế liệu bên đường (V không nhớ nơi đã bán xe) với giá 650.000 đồng rồi đón xe khách để về nhà tại thôn An Điềm B, xã Cẩm Định, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương, trên đường đi V đem số tiền trộm cắp của chị K ra đếm được tổng số tiền là 14.000.000 đồng và tiêu sài hết. Ngày 26/12/2019, V khai đã đem chiếc máy tính bảng nhãn hiệu APPLE IPAD 3 bán cho anh Vũ Tiến Hãn chủ tiệm điện thoại “Hảo” với giá 1.200.000 đồng. Sau khi phát hiện bị mất trộm tài sản, chị Trần Lồng K không trình báo Công an xã Thanh Bình, huyện Trảng Bom mà đăng thông tin lên mạng xã hội “Facebook” để tìm kiếm V. Đến ngày 21/3/2020 khi Bùi Quang V đến khu vực ga Hố nai, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai để gặp người bạn quen trên mạng xã hội “Zalo” thì bị anh Lê Kim Th là thành viên Đội phòng chống tội phạm của huyện Trảng Bom bắt giữ đưa về Công an xã Thanh Bình, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xử lý và Bùi Quang V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại bản kết luận định giá của hội đồng định giá Ủy ban nhân dân huyện Trảng Bom đã kết luận chiếc xe môtô nhãn hiệu Honda Dream biển số 60F5-3792 đã qua sử dụng, trị giá 12.000.000 đồng; chiếc máy tính bảng nhãn hiệu APPLE IPAD 3 đã qua sử dụng trị giá 2.000.000 đồng.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream biển số 60F5-3792 của anh Nguyễn Cảnh C bị cáo khai đã bán cho người đàn ông không rõ nhân thân lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bom không có căn cứ xác minh làm rõ.

Đối với chiếc máy tính bảng nhãn hiệu APPLE IPAD 3 của chị Trần Lồng K bị cáo khai đã bán cho anh Vũ Tiến H chủ tiệm điện thoại “Hảo” nhưng anh H không thừa nhận đã mua máy tính bảng trên của bị cáo nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bom không có cơ sở để xử lý đối với anh H và cũng không thu hồi được tài sản.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Cảnh C yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 8.000.000 đồng, chị Trần Lồng K yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 16.000.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 161/CT/VKS-HS ngày 01 tháng 6 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom truy tố bị cáo Bùi Quang V về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự và tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 (Sau đây gọi tắt là Bộ luật hình sự).

Tại phiên tòa, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:

1. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo V từ 09 đến 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và từ 09 đến 12 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung từ 18 tháng đến 24 tháng tù.

2. Về dân sự: Buộc bị cáo bồi thường cho anh C, chị K theo quy định pháp luật.

3. Về án phí: Buộc bị cáo chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội nêu trên, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với lời khai bị hại. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận: Vào ngày 19/12/2019 tại ấp Tân Thành, xã Thanh Bình, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, bị cáo Bùi Quang V đã có hành vi lén lút chiếm đoạt số tiền 14.000.000 đồng và 01 máy tính bảng nhãn hiệu APPLE IPAD 3 trị giá 2.000.000 đồng (tổng trị giá tài sản chiếm đoạt là 16.000.000 đồng) của chị Trần Lồng K với lỗi cố ý trực tiếp. Vì vậy, hành vi của bị cáo Bùi Quang V đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Đồng thời, cùng ngày 19/12/2019 tại ấp Tân Thành, xã Thanh Bình, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi gian dối chiếm đoạt xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream biển số 60F5-3792 của anh Nguyễn Cảnh C trị giá 12.000.000 đồng (mười hai triệu đồng) với lỗi cố ý trực tiếp. Vì vậy, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Xét tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo thì thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của chị Trần Lồng K và anh Nguyễn Cảnh C được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo chưa có tiền án tiền sự; Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Cảnh C yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại số tiền 8.000.000 đồng và chị Trần Lồng K yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại số tiền 16.000.000 đồng được bị cáo đồng ý nên ghi nhận sự thỏa thuận của hai bên.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.200.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử là phù hợp với quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 55 Bộ luật hình sự:

1.1 Tuyên bố bị cáo Bùi Quang V (Tên gọi khác: Q) phạm tội “Trộm cắp tài sản” và “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

1.2 Xử phạt bị cáo Bùi Quang V (Tên gọi khác: Q) 10 (mười) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 10 (mười) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung là 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù; Thời hạn tù tính từ ngày 23/3/2020.

2. Căn cứ vào Điều 589 Bộ luật Dân sự năm 2015:

- Buộc bị cáo Bùi Quang V (Tên gọi khác: Q) có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại về tài sản cho chị Trần Lồng K số tiền 16.000.000 đồng (mười sáu triệu đồng).

- Buộc bị cáo Bùi Quang V (Tên gọi khác: Q) có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại về tài sản cho anh Nguyễn Cảnh C số tiền 8.000.000 đồng (tám triệu đồng).

Kể từ ngày anh Nguyễn Cảnh C, chị Trần Lồng K có đơn yêu cầu thi hành án đối với số tiền nêu trên, nếu bị cáo chậm trả tiền thì hàng tháng bị cáo phải trả lãi đối với số tiền chậm trả, theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

3. Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo V phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 1.200.000 đồng (một triệu hai trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

4. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

5. Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ