vanban.org

Bản án 132/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Nguyễn Thị T. Xử cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Triệu Văn T.

Về con chung: Giao cháu Triệu Thị Thùy L, sinh ngày 30/3/2014 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con đủ tuổi thành niên. Chị T không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom và chăm sóc con chung không ai được cản trở. Về tài sản, công nợ chung: Không yêu cầu, nên khôn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn và nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Nguyễn Thị T. Xử cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Triệu Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN C
TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 132/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 11/8/2020
V/v: Tranh chấp ly hôn và nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Ánh Tuyết. Các hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Thái Dìn và bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh. -Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Phạm Thị Lan – Thư ký TAND huyện C.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Bích – Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện C xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 43/2020/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 3 năm 2020 về tranh chấp “Ly hôn và nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2020/QĐXX-ST, ngày 02 tháng 7 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2020/QĐST ngày 22/7/2020 giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1994 . Nơi cư trú: Thôn Sơn L, xã Cẩm Ch, huyện C, Thanh Hóa. Có mặt. 2. Bị đơn:

Anh Triệu Văn T, sinh năm 1993

Nơi cư trú: Thôn Sơn L, xã Cẩm Ch, huyện C, Thanh Hóa Vắng mặt. ơ

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 03/3/2020 và bản tự khai nguyên đơn là chị Nguyễn Thị T trình bày: Chị và anh T kết hôn với nhau tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Cẩm Ch, huyện C, Thanh Hóa ngày 12/11/2013. Sau khi kết hôn vợ chồng sống chung cùng với gia đình nhà chồng. Mâu thuẫn xảy ra từ khi cưới nhau về gia đình kinh tế khó khăn nên vợ chồng hay cãi vả lẫn nhau, anh T còn chơi bời, cờ bạc và hay đánh đập, chửi chị thậm tệ. Đến nay chị không thể tiếp tục chung sống với anh T được nữa, vợ chồng đã ly thân từ tháng 03/2019 đến nay, tình cảm không còn. Chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn anh T.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung Triệu Thị Thùy L, sinh ngày 30/3/2014. Hiện nay, con đang ở với chị. Chị có nguyện vọng được nuôi con và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Triệu Văn T: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã gửi Giấy triệu tập cho anh T, nhưng anh T vắng mặt không có lý do, không nộp văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và các tài liệu chứng cứ kèm theo mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng. Tòa án tiến hành các thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật. Tại biên bản xác minh đối với người thân của anh T là ông Trịnh Đình H (bố đẻ của anh T). Ông H cho biết: Anh T là con trai của ông, khai sinh theo họ của mẹ (họ Triệu). Vợ chồng anh T kết hôn ở nhà được 02 năm thì đi làm ăn. Hiện nay, anh T đang đi làm ở Thái Nguyên, địa chỉ cụ thể ông không biết. Quá trình vợ chồng chung sống, có xảy ra mâu thuẫn do anh T hay chơi bời, cờ bạc. Gia đình 02 bên đã thu xếp ổn định được 02 năm nhưng anh T vẫn không thay đổi, có lần anh T còn đánh vợ nên chị T làm đơn xin ly hôn. Nay các con ly hôn, không ở được với nhau gia đình cũng phải chịu. Anh T đã gọi điện trao đổi anh nhất trí ly hôn nhưng do công việc bận nên không về được và đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt. Ông H đã nhận giấy triệu tập, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Ông đã cam kết giao lại cho anh T.

Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điều 56, điều 58 – Luật Hôn nhân và gia đình. Khoản 4 điều 147 – BLTTDS. Điểm a khoản 1 điều 24, điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Toà án. Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

Về hôn nhân: Đề nghị xử cho chị T ly hôn anh T.

Về con chung: Giao cháu Triệu Thị Thùy L, sinh ngày 30/03/2014 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con đủ tuổi thành niên. Chị T không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét..

Về tài sản, công nợ chung: Chị T không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét.

Về án phí: Chị T phải chịu 300.000đ án phí DSST.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị T làm đơn khởi kiện xin ly hôn đối với bị đơn anh Triệu Văn T trú tại: Thôn Sơn L, xã Cẩm Ch, huyện C, Thanh Hóa. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện C , quy định tại điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về quan hệ pháp luật: Đây là vụ án tranh chấp về ly hôn được quy định tại khoản 1 điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về thủ tục xét xử vắng mặt: Anh Triệu Văn T hiện không có mặt tại địa phương, không đến Tòa án làm việc. Kết quả xác minh tại Công an xã Cẩm Ch, anh T có hộ khẩu thường trú tại địa phương, anh đang đi làm ăn nhưng không có địa chỉ cụ thể, thỉnh thoảng anh vẫn về quê, anh T đi không khai báo cho chính quyền địa phương biết. Căn cứ vào khoản 3 điều 40; điểm b khoản 2 điều 277 của BLDS năm 2015 thì được coi là cố tình giấu địa chỉ. Theo hướng dẫn tại điểm a khoản 2 điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQQ-HĐTP, ngày 05/5/2017 của HĐTP Tòa án nhân dân tối cao thì địa chỉ cuối cùng của bị đơn theo hộ khẩu thường trú là thôn Sơn L, xã Cẩm Ch, huyện C, Thanh Hóa.

Anh T đã được tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, Giấy triệu tập để trình bày ý kiến, các thông báo về phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa, Giấy triệu tập để tham gia phiên tòa, nhưng vẫn vắng mặt, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2. Các thủ tục tố tụng đã được đã tiến hành đảm bảo theo quy định tại khoản 5 điều 177 của Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ vào điểm b khoản 2 điều 227- Bộ luật TTDS. Tòa án nhân dân huyện C tiến hành xét xử vắng mặt anh T. Bị đơn không nộp văn bản ý kiến của mình đối với yêu cầu của người khởi kiện và các tài liệu chứng cứ kèm theo, mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng là vi phạm nghĩa vụ giao nộp chứng cứ và Tòa án thu thập để giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 1 điều 96 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về yêu cầu của nguyên đơn: Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Cẩm Ch, huyện C, Thanh Hóa nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại điều 9 – Luật hôn nhân gia đình. Trong quá trình chung sống, giữa chị T và anh T phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do điều kiện kinh tế gia đình khó khăn, vợ chồng hay cãi vả lẫn nhau, anh T còn hay chơi bời, cờ bạc và hay đánh đập, chửi chị thậm tệ. Chị và anh đã ly thân từ tháng 3/2019 đến nay. Xét mâu thuẫn vợ chồng đã trở nên trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, nên yêu cầu của chị T là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại điều 51 và điều 56 – Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Chị T và anh T có 01 con chung Triệu Thị Thùy L, sinh ngày 30/3/2014. Chị T có nguyện vọng được nuôi con. Xét nguyện vọng nuôi con của chị T là chính đáng, hiện nay con đang ở với chị. Do đó, giao cháu L cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con đủ tuổi thành niên là phù hợp. Chị T không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản, công nợ chung: Các đương sự không có yêu cầu, nên không xem xét

Về án phí: Chị T phải chịu án phí DSST theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 điều 28, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 điều 39, khoản 1 điều 96, khoản 4 điều 147, khoản 5 điều 177, điểm b khoản 2 điều 227 và điều 273 Bộ luật TTDS. Điều 51, điều 56, điều 57, điều 81, 82 và 83 - Luật hôn nhân và gia đình. Điểm a khoản 1 điều 24, điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Toà án của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Nguyễn Thị T. Xử cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Triệu Văn T.

2. Về con chung: Giao cháu Triệu Thị Thùy L, sinh ngày 30/3/2014 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con đủ tuổi thành niên. Chị T không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom và chăm sóc con chung không ai được cản trở.

3. Về tài sản, công nợ chung: Không yêu cầu, nên không giải quyết

4. Về án phí: Chị T phải chịu 300.000đ án phí DSST được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số AA/2018/0006229, ngày 03/3/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ