vanban.org

Bản án 132/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lê Thị Kim C đối với anh Lê Thành T.

Cho ly hôn giữa chị Lê Thị Kim C và anh Lê Thành T. Quan hệ hôn nhân giữa chị Lê Thị Kim C và anh Lê Thành T chấm dứt kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thị Kim C - Lê Thành T"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lê Thị Kim C đối với anh Lê Thành T.
  • Căn cứ chính? Điều 119 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
ê
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH ĐẠI, TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 132/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 17- 12 - 2019.
Về việc tranh chấp: “Ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI, TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Duyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đặng Hoàng Mích;

Bà Võ Thị Mai.

- Thư ký phiên Tòa: Bà Đinh Quốc Hiếu – là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Đại tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Lanh – Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 12 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 527/2019/TLST – HNGĐ ngày 07 tháng 10 năm 2019 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 302/2019/QĐXXST- HNGĐ ngày 06 tháng 12 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Lê Thị Kim C, sinh năm 1989 (Có mặt)

Địa chỉ: ấp S, xã T, huyện D, tỉnh Bến Tre.

- Bị đơn: Lê Thành T, sinh năm 1985 (Có mặt)

Địa chỉ: ấp S, xã T, huyện D, tỉnh Bến Tre.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn xin ly hôn đề ngày 05/9/2019, bản tự khai ngày 30/10/2019 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn chị Lê Thị Kim C trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh T cưới nhau vào năm 2010 trên tinh thần tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T vào năm 2010. Thời gian đầu sống có hạnh phúc nhưng đến tháng 10 năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng làm ăn nuôi tôm thua lỗ dẫn đến cự cãi nhau, anh T chỉ lo ăn chơi đá gà, nhậu nhẹt không lo cho gia đình, chị nhiều lần khuyên năn nhưng anh không thay đổi mà còn ăn chơi nhiều hơn, từ đó hạnh phúc vợ chồng không còn, dù sống chung một nhà nhưng đã ly thân từ tháng 11/2018 đến nay. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa, nên chị yêu cầu được ly hôn với anh T.

- Về nuôi con chung: Có 01 con chung tên Lê Ngọc Phương V, sinh ngày 28/10/2013. Khi ly hôn chị yêu cầu nuôi con và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Không có.

- Về nợ chung: Không có.

- Tại phiên Tòa: Chị C vẫn giữ yêu cầu khởi kiện không thay đổi gì.

* Tại bản tự khai ngày 21/11/2019, biên bản hòa giải ngày 06/12/2019 và trong quá trình xét xử, bị đơn anh Lê Thành T trình bày:

Anh thống nhất với lời trình bày của chị C về hôn nhân, quá trình chung sống, đăng ký kết hôn nhưng theo anh xác định nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng làm ăn nuôi tôm thua lỗ dẫn đến cự cãi, anh cũng có ăn chơi, nhậu nhẹt nhưng vẫn lo làm ăn; chị C thường bỏ đi chơi, anh nhiều lần khuyên can nhưng vợ anh không nghe, từ đó vợ chồng mâu thuẫn nhau, mặc dù vẫn sống chung một nhà nhưng không nói chuyện, không ngủ chung với nhau từ lúc chị C nộp đơn tháng 9/2019 đến nay.

Nay chị C yêu cầu ly hôn nhưng anh không đồng ý, vì vẫn còn thương vợ con và muốn có thêm thời gian ly thân để tìm cách hàn gắn và suy nghĩ lại.

- Về con chung: Có 01 con chung tên Lê Ngọc Phương V, sinh ngày 28/10/2013. Trường hợp Tòa án giải quyết cho ly hôn thì anh yêu cầu Tòa án căn cứ theo pháp luật giải quyết.

- Về tài sản chung: Không có.

- Về nợ chung: Không có.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Đại phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và ý kiến về nội dung giải quyết vụ án:

- Về tuân theo pháp luật tố tụng :

Thẩm phán, Hội đồng xét xử, người tiến hành tố tụng, và người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ tuân theo đúng quy định của pháp luật.

- Về nội dung giải quyết vụ án:

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị C đối với anh T.

- Về con chung: Giao cháu Lê Ngọc Phương V, sinh ngày 28/10/2013 cho chị C nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện chị C không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không có, nên đề nghị Hội đồng xét xử không xét đến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về quan hệ hôn nhân:

Chị Lê Thị Kim C và anh Lê Thành T cưới nhau vào năm 2010 trên tinh thần tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Bình Đại vào năm 2010 theo đúng quy định của pháp luật, nên quan hệ hôn nhân giữa chị C và anh T được công nhận hợp pháp.

Nay chị C yêu cầu ly hôn, anh T không đồng ý ly hôn vì còn thương vợ con. Hội đồng xét xử xét thấy: Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, trong đó có biên bản xác minh tại chính quyền địa phương cũng như lời khai của chị C và anh T đều xác định được cuộc sống vợ chồng của anh chị đã phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng làm ăn nuôi tôm thua lỗ dẫn đến cự cãi, anh T chỉ lo ăn chơi, nhậu nhẹt, đá gà, không lo cho gia đình dù nhiều lần chị C đã khuyên năn nhưng vẫn không sửa đổi; chị C thì thường bỏ đi chơi, anh nhiều lần khuyên can nhưng chị không nghe. Hiện tại anh chị vẫn sống chung một nhà nhưng việc ai người đó làm không quan tâm nhau, chị C xác định ly thân từ tháng 11/2018, anh T thì xác định ly thân từ tháng 9/2019 đến nay, cho thấy hai bên đều đã có thời gian ly thân.

Qua đó, có cơ sở để Hội đồng xét xử xác định giữa chị C và anh T đã không còn quan tâm, chăm sóc đến cuộc sống của nhau, cùng nhau chia sẻ thực hiện các công việc trong gia đình. Điều đó, chứng tỏ hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu ly hôn của chị C là có căn cứ và phù hợp theo quy định tại Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

. Về nuôi con chung: Trong quá trình sống chung giữa chị C và anh T có 01 con chung tên Lê Ngọc Phương V, sinh ngày 28/10/2013. Khi ly hôn chị C yêu cầu nuôi cháu Vy, anh T thì yêu cầu căn cứ theo pháp luật giải quyết.

Hội đồng xét xử xét thấy: Xuất phát từ lợi ích mọi mặt của cháu Vy, xét thấy việc chị C trực tiếp nuôi con chung vẫn phát triển bình thường, hơn nữa anh T cũng không có yêu cầu nuôi con mà yêu cầu căn cứ theo pháp luật giải quyết và từ trước đến nay anh T đều sống bên gia đình chị C, nên để nhằm ổn định về tinh thần của con chung anh và chị, cần để cháu Vy cho chị C tiếp tục nuôi dưỡng cũng là phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu nuôi con chung của chị C.

. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị C nuôi con chung nhưng không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con, nên được Hội đồng xét xử ghi nhận và không xét đến.

. Về tài sản chung: Không có, nên Hội đồng xét xử không xét đến.

. Về nợ chung: Không có, nên Hội đồng xét xử không xét đến.

. Đối với lời trình bày của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bình Đại về quan điểm giải quyết vụ án: phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

. Về án phí hôn nhân sơ thẩm:

Căn cứ theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Chị Lê Thị Kim C phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84, 119 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lê Thị Kim C đối với anh Lê Thành T.

Cho ly hôn giữa chị Lê Thị Kim C và anh Lê Thành T.

Quan hệ hôn nhân giữa chị Lê Thị Kim C và anh Lê Thành T chấm dứt kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

2. Về nuôi con chung:

2.1. Giao con chung Lê Ngọc Phương V, sinh ngày 28/10/2013 cho chị Lê Thị Kim C trực tiếp nuôi dưỡng.

2.2. Ghi nhận sự tự nguyện chị Lê Thị Kim C nuôi con chung không yêu cầu anh Lê Thành T cấp dưỡng nuôi con.

Anh Lê Thành T không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Chị Lê Thị Kim C trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở anh Lê Thành T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84, Điều 119 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và quyết định việc thay đổi yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung: Hai bên khai không có, nên không xét đến

4. Về nợ chung: Hai bên khai không có, nên không xét đến.

5. Về án phí hôn nhân sơ thẩm:

Chị Lê Thị Kim C phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị C đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0006027 ngày 07 tháng 10 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre. Như vậy, chị Lê Thị Kim C đã nộp đủ án phí.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ