- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Quang L - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số: 132/2018/HS-ST Ngày: 31 - 7 - 2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hồ Thanh Thủy
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Hoàng Phú;
2. Bà Nguyễn Kim Hoa.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Cảnh Khang, Thƣ ký Toà án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Mai Chiến Thắng - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 125/2018/TLST-HS ngày 09 tháng 7 năm 2018 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 129/2018/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 7 năm 2018 đối với bị cáo:
Trƣơng Quang L, sinh năm 1983 tại tỉnh A; nơi thƣờng trú: Ấp P, xã T, huyện S, tỉnh A; chỗ ở: 123D/2 khu phố 1, phƣờng A, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trƣơng Quang L1 và bà Nguyễn Thị B; bị cáo có 01 con sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không có;
Bị bắt, tạm giam ngày 18/01/2018.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Lê Thị Mỹ K, sinh năm 1985; trú tại: Ấp A, thị trấn E, huyện S, tỉnh A. Có đơn yêu cầu giải quyết, xét xử vắng mặt.
- Bà Bùi Thị Thúy L2, trú tại: 166/6B ấp Đ, phƣờng M, thành phố X, tỉnh A. Vắng mặt.
Ngƣời làm chứng:
- Ông Nguyễn Hiền S, sinh năm 1983; trú tại: Xã V, huyện G, tỉnh K. Vắng mặt.
- Ông Vi H, sinh năm 1973; trú tại: Thôn T, xã N, huyện T, tỉnh Q. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 18/01/2018 Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Bình Dƣơng phối hợp với Công an thị xã Thuận An và Công an phƣờng An Phú tiến hành tuần tra trên đoạn đƣờng A17 thuộc khu phố 1, phƣờng A, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng. Khi đến trƣớc công ty TNHH MF thì tổ tuần tra phát hiện Trƣơng Quang L đang điều khiển xe môtô biển số 67N9-0742 có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành dừng xe để kiểm tra. Qua kiểm tra, lực lƣợng Công an phát hiện 03 đoạn ống hút màu vàng cam hàn kín bên trong chứa chất màu trắng trong túi quần bên phải phía trƣớc và 05 đoạn ống hút màu trắng sọc xanh hàn kín bên trong chứa chất màu trắng (nghi Heroin) trong túi quần bên trái phía trƣớc nên đã đƣa L về trụ sở để làm việc.
Ngoài ra, cơ quan Công an đã tiến hành khám xét nơi ở của L tại phòng số 06 nhà số 123D/2 đƣờng A17, khu phố 1, phƣờng A, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng thì phát hiện thêm 13 đoạn ống hút màu trắng sọc xanh bên trong chứa tinh thể màu trắng (nghi Heroin) và 08 gói nylon hàn kín bên trong chứa chất tinh thể màu trắng (nghi ma túy tổng hợp).
Tại cơ quan Công an, Trƣơng Quang L khai nhận số ma túy trên L mua của một đối tƣợng không rõ lai lịch, địa chỉ tại khu vực bến xe Z, Thành phố H với giá 3.500.000 đồng, mục đích để sử dụng dần.
Vật chứng thu giữ gồm: Một chiếc xe môtô biển số 67N9-0742; 08 gói nylon hàn kín bên trong chứa chất tinh thể màu trắng nghi ma túy tổng hợp (ký hiệu M1); 13 đoạn ống hút màu trắng sọc xanh bên trong chứa tinh thể màu trắng nghi Heroin (ký hiệu M2); 08 đoạn ống hút nhựa hàn kín chứa chất màu trắng (ký hiệu M3); 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đỏ; 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu vàng, 01 giấy chứng minh nhân dân tên Trƣơng Quang L, số tiền 350.000 đồng.
Theo kết luận giám định số 60/MT-PC54 ngày 24/01/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng kết luận: Mẫu tinh thể gửi giám định là ma túy, có trọng lƣợng 1,2251 gam (M1), loại Methamphetamine; 1,0999 gam (M2) và 0,6488 gam (M3) loại Heroin.
Tại Cáo trạng số 135/CT-VKS-TA ngày 06/7/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng đã truy tố bị cáo Trƣơng Quang L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố theo toàn bộ nội dung Cáo trạng đã nêu, đồng thời đánh giá tính chất mức độ, hậu quả hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Trƣơng Quang L từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.
Và đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Về tố tụng: Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, cán bộ điều tra, Kiểm sát viên đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại, tố cáo về các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng là hợp pháp.
Về nội dung: Tại phiên tòa, bị cáo Trƣơng Quang L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nhƣ nội dung bản cáo trạng. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của ngƣời làm chứng và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 18/01/2018, trƣớc công ty MF tại đoạn đƣờng A17 thuộc khu phố 1, phƣờng A, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, Công an tỉnh Bình Dƣơng phối hợp với Công an thị xã Thuận An và Công an phƣờng A phát hiện Trƣơng Quang L có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra, lực lƣợng Công an phát hiện 03 đoạn ống hút màu vàng cam hàn kín bên trong chứa chất mà trắng trong túi quần bên phải phía trƣớc và 05 đoạn ống hút màu trắng sọc xanh hàn kín bên trong chứa chất màu trắng (nghi Heroin) trong túi quần bên trái phía trƣớc. Ngoài ra, cơ quan Công an đã tiến hành khám xét nơi ở của L tại phòng số 06 nhà số 123D/2 đƣờng A17, khu phố 1, phƣờng A, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng thì phát hiện thêm 13 đoạn ống hút màu trắng sọc xanh bên trong chứa tinh thể màu trắng (nghi Heroin) và 08 gói nylon hàn kín bên trong chứa chất tinh thể màu trắng (nghi ma túy tổng hợp). Nên lực lƣợng công an lập biên bản niêm phong tang vật, biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang.
Hành vi của bị cáo Trƣơng Quang L tàng trữ trái phép 1,2251 gam chất ma túy loại Methamphetamine; 1,0999 gam và 0,6488 gam chất ma túy loại Heroin nhằm mục đích để sử dụng đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017). Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ và đúng pháp luật.
Tính chất, mức độ của hành vi: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nƣớc đối với các chất ma tuý; gây tác hại xấu đến trật tự công cộng và an toàn xã hội. Bản thân bị cáo là đối tƣợng nghiện, để thỏa mãn cơn nghiện bị cáo mua chất ma túy về để sử dụng. Việc mua bán, tàng trữ, vận chuyển và sử dụng trái phép chất ma túy là nguyên nhân làm phát sinh nhiều tệ nạn xã hội. Loại ma túy mà bị cáo sử dụng là Methaphetamin, là một loại chất gây nghiện tổng hợp có nhiều tác hại cho sức khỏe con ngƣời. Hiện nay tệ nạn hút chích ma túy đang là gánh nặng cho nhiều gia đình và xã hội. Bị cáo nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm nhƣng vì nghiện chất ma túy, bị cáo vẫn cố ý phạm tội, bất chấp pháp luật và hậu quả gây ra cho xã hội. Do vậy, cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc mới có thể cải tạo, giáo dục bị cáo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải nên áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Hình phạt theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát có căn cứ, đúng pháp luật nên đƣợc chấp nhận.
Về xử lý vật chứng:
- 03 (ba) bì thƣ đã niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng, bên ngoài ghi ký hiệu số vụ: 60/PC54 (M1), 60/PC54 (M2) 60/PC54 (M3) là mẫu vật hoàn lại sau giám định nên cần tịch thu, tiêu hủy;
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia màu đỏ, IMEI: 357273/05/738735/0 là phƣơng tiện bị cáo sử dụng liên lạc mua ma túy nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nƣớc;
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone màu vàng, số model A1522, IMEI: 354392062670651 bị hở màn hình là tài sản của bà Lê Thị Mỹ K nhờ bị cáo L mua dùm. Quá trình điều tra, bà K không yêu cầu nhận lại nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nƣớc;
- 01 (một) chiếc xe môtô biển số 67N9-0742, nhãn hiệu YMH-MAXNEO, số loại C100-E2, số khung RNGKCG1VH81003517, số máy VZS150FMG-1003517, quá trình điều tra Long khai chiếc xe này do L mua của một ngƣời thanh niên tên T (không rõ họ tên, địa chỉ) với giá 1.200.000 đồng để làm phƣơng tiện đi lại. Căn cứ vào phiếu trả lời xác minh phƣơng tiện giao thông cơ giới đƣờng bộ xác định chiếc xe này do bà Bùi Thị Thúy L đứng tên đăng ký chủ sở hữu, tuy nhiên bà L đã bỏ đi khỏi địa phƣơng nên cơ quan Công an đã ra Thông báo truy tìm chủ sở hữu nhƣng đến nay đã hết thời hạn 30 ngày kể từ ngày ra thông báo vẫn chƣa có ai đến liên hệ. Xét bị cáo đã sử dụng chiếc xe này làm phƣơng tiện đi lại khi thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nƣớc.
- Số tiền 350.000 đồng đây là tiền của bị cáo L không phải là tiền thu lợi bất chính do hành vi phạm tội mà có nên sẽ trả lại cho bị cáo.
- Đối với giấy chứng minh nhân dân tên Trƣơng Quang L, quá trình điều tra cơ quan cảnh sát điều tra công an thị xã Thuận An đã trả lại cho bị cáo L là đúng quy định nên không xử lý.
Đối với đối tƣợng bán ma túy cho bị cáo L, quá trình điều tra chƣa xác định đƣợc nhân thân lai lịch nên khi nào xác định sẽ xử lý sau.
Về án phí: Bị cáo phạm tội và bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017); Khoản 2 Điều 106, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
- Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố bị cáo Trƣơng Quang L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Trƣơng Quang L 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/01/2018.
2. Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy 03 (ba) bì thƣ đã niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng, bên ngoài ghi ký hiệu số vụ: 60/PC54 (M1), 60/PC54 (M2), 60/PC54 (M3).
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nƣớc 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia màu đỏ, IMEI: 357273/05/738735/0, 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone màu vàng, số model A1522, IMEI: 354392062670651 bị hở màn hình, 01 (một) chiếc xe môtô biển số 67N9-0742, nhãn hiệu YMH-MAXNEO, số loại C100-E2, số khung RNGKCG1VH81003517, số máy VZS150FMG-1003517 (xe và điện thoại không kiểm tra bên trong).
- Trả lại cho bị cáo Trƣơng Quang L số tiền 350.000 đồng (Ba trăm năm mƣơi nghìn đồng).
(Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 06/7/2018 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra công an thị xã Thuận An và Chi cục thi hành án dân sự thị xã Thuận An; ủy nhiệm chi số 16 lập ngày 06/7/2018).
3. Về án phí:
Bị cáo Trƣơng Quang L phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đối với ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND thị xã Thuận An; - Chi cục THADS thị xã Thuận An; - Cơ quan CSĐT Công an thị xã Thuận An; - Cơ quan THAHS Công an thị xã Thuận An; - Sở Tƣ pháp tỉnh Bình Dƣơng; - Bị cáo; ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lƣu: HS, THAHS, AV. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Thanh Thủy |