- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Nguyễn Bá K.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUỶ NGUYÊN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 132/2018/HNGĐ-ST Ngày 14-9-2018 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUỶ NGUYÊN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Anh Sơn
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Chương
Ông Trần Đình Điệu
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hà - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 465/2018/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 7 năm 2018 về ly hôn, tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 165/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 8 năm 2018 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T; địa chỉ nơi đăng ký thường trú: Thôn 11, xã BK, huyện NT, thành phố Hải Phòng; địa chỉ nơi ở hiện nay: Thôn 2, xã MC, huyện NT, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Bá K; địa chỉ: Thôn 11, xã BK, huyện NT, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Bá K kết hôn với nhau vào năm 2008, trên cơ sở tìm hiểu, tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã BK, huyện NT, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hòa hợp, vợ chồng không tin tưởng nhau, anh Nguyễn Bá K hay ghen tuông vô cớ. Mâu thuẫn vợ chồng căng thẳng và vợ chồng đã ly thân nhau từ đầu năm 2018 đến nay. Chị Nguyễn Thị T nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị được ly hôn anh Nguyễn Bá K. Vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Bá Kh, sinh ngày 23 tháng 7 năm 2009. Khi ly hôn chị Nguyễn Thị T xin được nuôi con. Về cấp dưỡng nuôi con để vợ chồng tự thỏa thuận. Vợ chồng không có tài sản chung.
Ý kiến và đề nghị của bị đơn: Anh Nguyễn Bá K thừa nhận về thời gian kết hôn, điều kiện kết hôn như chị Nguyễn Thị T trình bày là đúng. Về nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng anh thừa nhận do anh ghen tuông với vợ trong lĩnh vực tình cảm dẫn đến vợ chồng thường hay xẩy ra cãi nhau và anh có đánh chị Nguyễn Thị T một lần. Tuy nhiên, anh Nguyễn Bá K nhận thấy tình cảm vợ chồng vẫn còn, anh nhận lỗi và mong muốn vợ chồng đoàn tụ, chị Nguyễn Thị T xin ly hôn anh Nguyễn Bá K không đồng ý ly hôn. Về con chung vợ chồng có 01 con chung như chị Nguyễn Thị T trình bày là đúng. Nếu ly hôn anh Nguyễn Bá K đồng ý với ý kiến của chị Nguyễn Thị T. Về tài sản chung, vợ chồng có tài sản chung nhưng để vợ chồng tự giải quyết nếu không xong sẽ đề nghị Tòa án giải quyết sau.
Ý kiến của Viện kiểm sát: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng quy định của pháp luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án; đương sự là nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Bị đơn không chấp hành quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình giải quyết cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn. Về con chung: vợ chồng có 01 con chung, giao con cho chị Nguyễn Thị T nuôi. Về cấp dưỡng cho con để vợ chồng tự thỏa thuận. Về tài sản chung không yêu cầu nên không xem xét giải quyết. Chị Nguyễn Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Các tài liệu, chứng cứ, tình tiết của vụ án: Giấy chứng nhận kết hôn số 52/2008, quyển số 01/2008 của Ủy ban nhân dân xã BK, huyện NT, thành phố Hải Phòng xác định anh Nguyễn Bá K và chị Nguyễn Thị T đăng ký kết hôn vào ngày 28 tháng 5 năm 2008; tài liệu xác minh tại chính quyền địa phương xác định: Vợ chồng có mâu thuẫn từ đầu năm 2018, nguyên nhân do tính tình vợ chồng không hòa hợp, vợ chồng ly thân nhau từ đầu năm 2018 đến nay; vợ chồng có 01 con chung; anh Nguyễn Bá K hiện vẫn đang sinh sống tại địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng: Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, bị đơn vắng mặt. Căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Bá K được xác lập vào năm 2008 là hợp pháp. Tài liệu chứng cứ thu thập được thể hiện quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến đầu năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hòa hợp và vợ chồng đã ly thân nhau từ đầu năm 2018 đến nay. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án triệu tập anh Nguyễn Bá K hợp lệ lần thứ hai đến phiên tòa xét xử vụ án, nhưng anh Nguyễn Bá K đều vắng mặt, điều này thể hiện anh Nguyễn Bá K không muốn hòa giải. Chứng tỏ, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chấp nhận đề nghị của chị Nguyễn Thị T là phù hợp Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Vợ chồng có con chung Nguyễn Bá Kh, sinh ngày 23 tháng 7 năm 2009. Khi ly hôn chị Nguyễn Thị T xin được nuôi con, con chung có mong muốn được ở với mẹ. Hiện nay con đang do chị Nguyễn Thị T nuôi do vậy giao con chung cho chị Nguyễn Thị T nuôi là phù hợp các điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Về cấp dưỡng cho con, không có yêu cầu nên không giải quyết.
Về tài sản chung: Không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Nguyễn Bá K.
2. Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp nuôi con chung tên Nguyễn Bá Kh, sinh ngày 23 tháng 7 năm 2009. Việc nuôi con được thực hiện đến khi con đủ 18 hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0009160 ngày 02 tháng 7 năm 2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng; chị Nguyễn Thị T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND TP Hải Phòng; - VKSND huyện Thủy Nguyên; - Chi cục THADS huyện Thủy Nguyên; - UBND xã BK; - Đương sự; - Lưu: VT; Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Anh Sơn |