vanban.org

Bản án 132/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Hồng S về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” đối với bị đơn ông Phạm Minh K.

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho bà Nguyễn Thị Hồng S đ ợc ly hôn với ông Phạm Minh K. Về con chung và cấp d ỡng nuôi con chung: Giao 03 (ba) con chung là Phạm Anh V, sinh ngày 20/01/2006, Phạm Minh T, sinh ngày 17/7/2009 và Phạm Minh K1, sinh ngày 02/7/2013 cho bà Nguyễn Thị Hồng S nuôi d ỡng cho đến kh… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Nguyễn Thị Hồng S yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và con chung đối với ông Phạm Minh K"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Hồng S về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” đối với bị đơn ông Phạm Minh K.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NÚI THÀNH
TỈNH QUẢNG NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 132/2018/HNGĐ-ST
Ngày 18/ 5/2018.
Về việc “Ly hôn và tranh chấp con chung”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÚI THÀNH, TỈNH QUẢNG NAM

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ t a phiên t a: Bà Đinh Thị Huỳnh Lý

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Trần Thị Long.

Ông Nguyễn Tấn Hƣơng.

Th

phiên tòa: Bà Đoàn Thị Kiều Hoanh - Th ký Tòa án nhân dân huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam.

Đại diện Viện iểm sát nhân dân huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Tiền - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 5 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm công K1i vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 14/2018/TLST-HNGĐ ngày 24/01/2018 V/v: “Ly hôn và tranh chấp con chung” theo Quyết định đ a vụ án ra xét xử số: 15/2018/QĐST-HNGĐ ngày 10/4/2018 và Quyết định hoãn phiên Tòa số 11/2018/QĐST-HNGĐ ngày 04/5/2018, giữa các đ ơng sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Hồng S, sinh năm: 1977. Có mặt.

- Bị đơn: Ông Phạm Minh K, sinh năm: 1978. Vắng mặt.

Cùng trú tại: Thôn P, xã T, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng S trình bày: Bà Nguyễn Thị Hồng S và ông Phạm Minh K đăng ký kết hôn vào năm 2004 là hoàn toàn tự nguyện và theo đúng quy định của pháp luật. Trong quá trình chung sống vợ chồng bà S và ông K th ờng xuyên xảy ra mâu thuẫn; vợ chồng không đồng quan điểm, vợ chồng không có tiếng nói chung và th ờng xuyên xảy ra cải vã; ông K không lo làm ăn mà th ờng xuyên ăn chơi, đánh bài bạc; bản thân bà S và gia đình nhiều lần khuyên nhủ nh ng ông K vẫn không thay đổi. Nay, cuộc sống hôn nhân của bà S và ông K không còn hạnh phúc nên yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Núi Thành giải quyết đ ợc ly hôn.

Về con chung và cấp d ỡng nuôi con: Yêu cầu TAND huyện giao các cháu Phạm Anh V sinh ngày 20/01/2006, Phạm Minh T sinh ngày 17/7/2009 và Phạm Minh K1 sinh ngày 02/7/2013 cho bà Nguyễn Thị Hồng S nuôi d ỡng. Bà S không yêu cầu ông Phạm Minh K phải có nghĩa vụ cấp d ỡng nuôi con chung do bà S nhận thấy ông K không lo làm ăn và không có thu nhập ổn định.

Về tài sản chung, nợ chung: Tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết;

Bị đơn ông Phạm Minh K trình bày: Ông Phạm Minh K và bà Nguyễn Thị Hồng S đăng ký kết hôn từ năm 2004 là hoàn toàn tự nguyện và theo đúng quy định của pháp luật. Trong quá trình chung sống vợ chồng ông K và bà S có 03 con chung là Phạm Anh V sinh ngày 20/01/2006, Phạm Minh T sinh ngày 17/7/2009 và Phạm Minh K1 sinh ngày 02/7/2013. Trong cuộc sống hôn nhân vợ chồng ông K và bà S đôi lúc không hòa thuận, nguyên nhân là do ông K không có việc làm nên đôi lúc nóng tính có hay gây gỗ với vợ con. Nay, bà S yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn ông K không thống nhất, yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết cho ông K và bà S đ ợc đoàn tụ để về cùng nuôi dạy con cái.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên toà Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Th ký phiên toà, của nguyên đơn và bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến tr ớc thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng pháp luật. Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử xử cho bà Nguyễn Thị Hồng S đ ợc ly hôn với ông Phạm Minh K; Về con chung: Giao các cháu Phạm Anh V, sinh ngày 20/01/2006, Phạm Minh T, sinh ngày 17/7/2009 và Phạm Minh K1, sinh ngày 02/7/2013 cho bà Nguyễn Thị Hồng S nuôi d ỡng. Bà S không yêu cầu giải quyết nghĩa vụ cấp d ỡng nuôi con chung nên không đề cập giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung: Các đ ơng sự không có yêu cầu nên không đề cập xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đ ợc thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

- Bà Nguyễn Thị Hồng S có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn ông Phạm Minh K trú tại: Thôn P, xã Tam Mỹ Đông, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam. Vì vậy việc khởi kiện của bà S thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015.

- Ông Phạm Minh K là bị đơn vắng mặt tại phiên tòa nh ng đã đ ợc triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Hồng S và ông Phạm Minh K tự nguyện tìm hiểu và kết hôn vào năm 2004 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tam Mỹ (nay là UBND xã Tam Mỹ Đông), huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam. Nh vậy, hôn nhân của bà S và ông K là hợp pháp. Trong quá trình chung sống thì giữa bà S và ông K phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông K không lo làm phụ giúp gia đình mà th ờng xuyên ăn chơi, cờ bạc, không quan tâm vợ con; vợ chồng bà S ông K bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung và th ờng xuyên xảy ra cải vã nên tình cảm vợ chồng không còn. Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành hòa giải nh ng bà S vẫn kiến quyết yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, ông K có yêu cầu đoàn tụ nh ng không có biện pháp gì để khắc phục mâu thuẫn. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa bà S và ông K đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt đ ợc nên xét chấp nhận cho bà Nguyễn Thị Hồng S đ ợc ly hôn với ông Phạm Minh K là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Giữa bà S và ông K có 03 con chung tên là Phạm Anh V, sinh ngày 20/01/2006, Phạm Minh T, sinh ngày 17/7/2009 và Phạm Minh K1, sinh ngày 02/7/2013. Hội đồng xét xử nhận thấy: Đối với các con chung là Phạm Anh V sinh ngày 20/01/2006, Phạm Minh T sinh ngày 17/7/2009 hiện nay đã trên 7 tuổi nên phải xem xét đến nguyện vọng của các con (cháu V và cháu T yêu cầu giao cho bà S nuôi d ỡng) nên cần xem xét chấp nhận giao cho bà S nuôi d ỡng là phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình. Đối với cháu Phạm Minh K1, sinh ngày 02/7/2013 hiện nay đang đ ợc bà S nuôi d ỡng. Do vậy để ổn định sự phát triển của cháu K1 nên cần tiếp tục giao cho bà S nuôi d ỡng là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về cấp d ỡng nuôi con chung: bà S không yêu cầu Tòa án giải quyết nghĩa vụ cấp d ỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: các đ ơng sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị Hồng S phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Hồng S về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” đối với bị đơn ông Phạm Minh K.

- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho bà Nguyễn Thị Hồng S đ ợc ly hôn với ông Phạm Minh K.

- Về con chung và cấp d ỡng nuôi con chung: Giao 03 (ba) con chung là Phạm Anh V, sinh ngày 20/01/2006, Phạm Minh T, sinh ngày 17/7/2009 và Phạm Minh K1, sinh ngày 02/7/2013 cho bà Nguyễn Thị Hồng S nuôi d ỡng cho đến khi các cháu tr ởng thành, đủ 18 tuổi. Ông Phạm Minh K không có nghĩa vụ cấp d ỡng nuôi con chung.

Ng ời không trực tiếp nuôi con đ ợc quyền đến thăm nom con chung không ai đ ợc cản trở. Vì lợi ích của con, một trong hai ng ời có quyền yêu cầu thay đổi ng ời trực tiếp nuôi con, mức cấp d ỡng.

- Về Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng bà Nguyễn Thị Hồng S phải chịu, đ ợc trừ vào tiền tạm ứng án phí mà bà S đã nộp tại Chi cục thi hành án Núi Thành theo biên lai thu số 0001793 ngày 24/01/2018 của Chi cục thi hành án Dân sự huyện Núi Thành.

Tr ờng hợp bản án đ ợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì ng ời đ ợc thi hành án dân sự, ng ời phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị c ỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án đ ợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án Dân sự.

Đ ơng sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, đ ơng sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày niêm yết hoặc tống đạt hợp lệ bản án, để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Quảng Nam xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Cỡ chữ