vanban.org

Bản án 132/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giãm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[1] Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Trương Thị M được ly hôn với anh Quách Văn Gi. [2] Về con chung: Giao các cháu Quách Bích D, sinh ngày 04 tháng 6 năm 2004, Quách Cẩm N, sinh ngày 22 tháng 10 năm 2007, Quách Ngọc Đa, sinh ngày 29 tháng 7 năm 2009 và Quách Lệ Nh, sinh ngày 13 tháng 8 năm 2011 cho c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân và gia đình"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giãm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CÁI NƯỚC
TỈNH CÀ MAU
——————————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 132/2018/HNGĐ - ST
Ngày 05 - 7 - 2018
V/v Tranh chấp Ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Thanh Khiết

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Hành

Ông Nguyễn Quốc Trung

- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Văn Mil - Thư ký Tòa án

Trong ngày 05 tháng 7 năm 2018 tại Tòa án nhân dân huyện Cái Nước xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 154/2018/TLST- HNGĐ ngày 27 tháng 3 năm 2018 về tranh chấp Ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 174/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 5 năm 2018 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Trương Thị M - Sinh năm 1985 (Có mặt).

Cư trú tại: ấp HTX, xã TH, huyện CN, tỉnh Cà Mau.

Bị đơn: Anh Quách Văn Gi- Sinh năm 1981 (Vắng mặt).

Cư trú tại: ấp HTX, xã TH, huyện CN, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Về hôn nhân: Chị Trương Thị M và anh Quách Văn Gi kết hôn vào năm 2003, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TH, huyện CN, tỉnh Cà Mau. Sau khi cưới nhau về vợ chồng chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2018 thì phát sinh mâu thuẩn. Nguyên nhân mâu thuẩn là do bất đồng về quan điểm, anh Gi thường hay uống rượu về đánh đập chị M và có hành vi dọa chém chị M, đồng thời anh Gi không quan tâm vợ con, gia đình hai bên hàn gắn nhiều lần nhưng không thành, từ đó vợ chồng sống ly thân từ tháng 03 năm 2018 đến nay. Nay Chị Trương Thị M yêu cầu được ly hôn với anh Quách Văn Gi.

Về con chung: Trong quá trình chung sống chị M và anh Gi có với nhau 04 con chung tên Quách Bích D, sinh ngày 04 tháng 6 năm 2004, Quách Cẩm N, sinh ngày 22 tháng 10 năm 2007, Quách Ngọc Đa, sinh ngày 29 tháng 7 năm 2009 và Quách Lệ Nh, sinh ngày 13 tháng 08 năm 2011 hiện nay con đang sống với chị M. Khi ly hôn chị M yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con cho đến khi con thành niên, chị M yêu cầu anh Gi có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.

Về tài sản chung: chị M xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung và nợ riêng: chị M trình bày không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Nhận định của Tòa án về các vấn đề cần giải quyết của vụ án như sau:

[1] Tranh chấp giữa chị Trương Thị M và anh Quách Văn Gi là tranh chấp về Hôn nhân và gia đình về việc Ly hôn, nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Anh Quách Văn Gi có địa chỉ cư trú tại ấp HTX, xã TH, huyện CN, tỉnh Cà Mau. Do đó Tòa án nhân dân huyện Cái Nước thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Nhận định của Tòa án về nội dung tranh chấp của vụ án:

Về hôn nhân: chị M và anh Gi kết hôn vào năm 2003, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Hưng, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau. Nên đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 51 Luật HNGĐ năm 2014 thì chị Trương Thị M có quyền yêu cầu giải quyết việc ly hôn. Yêu cầu của chị M đã được Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết theo quy định tại Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và pháp luật tố tụng dân sự. Sau khi thụ lý giải quyết vụ án Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau tiến hành hòa giải tại Tòa án theo quy định tại Điều 54 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Tuy nhiên anh Quách Văn Gi đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt. Do đó Tòa án nhân dân huyện Cái Nước không tiến hành hòa giải được vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Tòa án nhân dân huyện Cái Nước căn cứ vào Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung và triệu tập anh Gi hợp lệ đến lần thứ hai với nội dung triệu tập anh Gi đến Tòa án nhân dân huyện Cái Nước để tham gia tố tụng tại phiên tòa, nhưng anh Gi vẫn vắng mặt không lý do. Do đó Tòa án nhân dân huyện Cái Nước căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt đối với anh Quách Văn Gi.

Xét thấy tại đơn khởi kiện và tại phiên tòa chị M cho rằng nguyên nhân mâu thuẩn là do vợ chồng bất đồng về quan điểm trong cuộc sống nên chị và anh Gi đã ly thân từ tháng 3 năm 2018 cho đến nay nhưng anh Gi không tạo điều kiện hàn gắn tình cảm để vợ chồng đoàn tụ. Tòa án xét thấy anh Quách Văn Gi đã được thông báo về việc chị M yêu cầu ly hôn với anh, nhưng anh Gi không có ý kiến và cũng không có bất kỳ văn bản nào thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu của chị M. Điều đó chứng tỏ mâu thuẩn của anh Gi và chị M đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Tòa án chấp nhận cho chị M được ly hôn với anh Gi.

Về con chung: Chị Trương Thị M xác định vợ chồng có 04 con chung tên Quách Bích D, sinh ngày 04 tháng 6 năm 2004, Quách Cẩm N, sinh ngày 22 tháng 10 năm 2007, Quách Ngọc Đa, sinh ngày 29 tháng 7 năm 2009 và Quách Lệ Nh, sinh ngày 13 tháng 8 năm 2011. Hiện các con đang sống với chị M, sau khi ly hôn chị M yêu cầu tiếp tục nuôi con yêu cầu anh Gi cấp dưỡng nuôi con. Tòa án xét thấy anh Quách Văn Gi đã được thông báo về việc chị M yêu cầu ly hôn với anh và yêu cầu nuôi con chung, yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật, nhưng anh Gi không có ý kiến và cũng không có bất kỳ văn bản nào thể hiện ý kiến của mình đối với các yêu cầu của chị M. Mặt khác cháu Bích D, Cẩm N, Ngọc Đa và Lệ Nh hiện tại đang sống với chị M đã ổn định về mặt tinh thần cũng như về tâm lý, đồng thời nguyện vọng của các cháu cũng muốn được sống với chị M, nên Tòa án giao cháu Bích D, Cẩm N, Ngọc Đa và Lệ Nh cho chị M tiếp tục nuôi dưỡng cho đến khi thành niên là phù hợp. anh Gi không trực tiếp nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 700.000 đồng/ cháu đến tuổi trưởng thành. Như vậy anh Quách Văn Gi phải cấp dưỡng nuôi con đối với các cháu Du, Nàng, Đam và Lệ mỗi tháng là 2.800.000 đồng cho đến khi các cháu tròn 18 tuổi. Thời gian cấp dưỡng tính từ ngay tuyên án sơ thẩm.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Về tài sản chung và nợ chung: chị M xác định chị và anh Gi không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó Tòa án không đặt ra xem xét.

Nếu sau này chị M và anh Gi có phát sinh tranh chấp về tài sản chung và nợ chung thì chị M và anh Gi đều có quyền khởi kiện thành vụ kiện dân sự khác theo quy định pháp luật.

Án phí hôn nhân và gia đình chị Trương Thị M phải nộp 300.000 đồng theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giãm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Án phí cấp dưỡng nuôi con: Buộc anh Quách Văn Gi phải chịu 300.000 đồng theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giãm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

Các điều 28, 35, 39, 147, 227, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Các điều 9, 51, 53, 54, 56, 57, 58, 81, 82 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Các điều 357, 468 Bộ luật dân sự năm 2015;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giãm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[1] Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Trương Thị M được ly hôn với anh Quách Văn Gi.

[2] Về con chung: Giao các cháu Quách Bích D, sinh ngày 04 tháng 6 năm 2004, Quách Cẩm N, sinh ngày 22 tháng 10 năm 2007, Quách Ngọc Đa, sinh ngày 29 tháng 7 năm 2009 và Quách Lệ Nh, sinh ngày 13 tháng 8 năm 2011 cho chị Trương Thị M trực tiếp nuôi dưỡng đến khi thành niên.

Buộc anh Quách Văn Gi phải cấp dưỡng nuôi con đối với các cháu Quách Bích D, sinh ngày 04 tháng 6 năm 2004, Quách Cẩm N, sinh ngày 22 tháng 10 năm 2007, Quách Ngọc Đa, sinh ngày 29 tháng 7 năm 2009 và Quách Lệ Nh, sinh ngày 13 tháng 08 năm 2011 mỗi tháng 2.800.000 đồng cho đến khi các cháu tròn 18 tuổi. Thời gian cấp dưỡng được tính kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đối với số tiền nêu trên kể từ ngày chị Trương Thị M có đơn yêu cầu thi hành án nếu anh Gi không thi hành xong thì hàng tháng anh Gi còn phải chịu lãi theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con không ai được cản trở.

Về tài sản chung và nợ chung: chị M xác định chị và anh Gi không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó Tòa án không đặt ra xem xét.

Nếu sau này chị M và anh Gi có phát sinh tranh chấp về tài sản chung và nợ chung thì chị M và anh Gi đều có quyền khởi kiện thành vụ kiện dân sự khác theo quy định pháp luật.

[3] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Trương Thị M phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm số tiền là 300.000 (Ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004294 ngày 27 tháng 3 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau. Chị Trương Thị M đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

[4] Án phí cấp dưỡng nuôi con: Buộc anh Quách Văn Gi phải nộp 300.000 đồng. Nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Nước khi án có hiệu lực pháp luật.

Án xử sơ thẩm công khai các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Quách Văn Gi vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Trường hợp Bản án (Quyết định) được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luạt thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ