vanban.org

Bản án 1311/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 12/08/2022 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

228, Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự;

ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? 228, Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • Căn cứ chính? Luật Thi hành án dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 1311/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 12-8-2022
V/v tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lưu Thị Thủy Tiên

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lê Thị Nhanh.

2. Ông Nguyễn Thành Thông.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Nguyễn Ngọc Linh – Thư ký Tòa án nhân

dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia

phiên tòa: Không tham gia.

Ngày 12 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí

Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 167/2022/TLST-HNGĐ ngày 04

tháng 5 năm 2022 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số

4328/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 8 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trần Thị P, sinh năm 1999.

Địa chỉ: Thôn H, xã K, huyện M, tỉnh N.

Tạm trú: 28/5 ấp A, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị đơn: Ông Lê Quang L (Le L Quang), sinh năm 1998.

Địa chỉ: 13740 X Y CA 92392, USA.

Các đương sự đã có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 15/4/2022 và những lời khai trong quá trình tố

tụng, nguyên đơn là bà Trần Thị P trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Lê Quang L (Le L Quang) kết hôn trên cơ

sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện M, tỉnh N và được

cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 45 ngày 21/9/2018. Sau khi kết hôn, thời gian

đầu bà và ông Lê Quang L (Le L Quang) sống hạnh phúc, về sau phát sinh mâu

thuẫn do bất đồng về quan điểm, lối sống hàng ngày. Cuối năm 2018, ông Lê

Quang L (Le L Quang) trở về Mỹ sinh sống và làm việc, còn bà vẫn ở lại Việt

Nam. Trong khoảng thời gian này, bà và ông Lê Quang L (Le L Quang) thỉnh

thoảng có liên lạc để giải quyết mâu thuẫn, hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng

không có kết quả. Do không có điều kiện gặp nhau để hàn gắn tình cảm nên tình

cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn không giải quyết được, khả năng đoàn tụ lại không có, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà đề nghị được ly hôn với ông Lê Quang L (Le L Quang) ổn định cuộc sống.

Về con chung: Không có.

Về tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ dân sự chung: Không có.

Vì bận việc, bà yêu cầu được vắng mặt cho đến khi kết thúc vụ án.

Tại Bản tự khai đã được hợp pháp hóa lãnh sự tại Tổng Lãnh sự quán nước

Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại San Francisco, Hoa Kỳ ngày 12/7/2022, bị đơn là ông Lê Quang L (Le L Quang) xác nhận lời trình bày của bà Trần Thị P về thời điểm kết hôn, về mâu thuẫn chung của vợ chồng, về con chung, tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ dân sự chung là đúng. Nay bà P xin ly hôn, ông đồng ý được ly hôn với bà P. Do điều kiện đi lại gặp nhiều khó khăn, ông yêu cầu được vắng mặt cho đến khi kết thúc vụ án.

Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt, Hội đồng xét xử

vẫn tiến hành xét xử theo thủ tục chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên

tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Bà Trần Thị P và ông Lê Quang L (Le L Quang) kết hôn trên cơ sở tự

nguyện và được Ủy ban nhân dân huyện M, tỉnh N cấp giấy chứng nhận kết hôn nên có đủ cơ sở xác định hôn nhân giữa bà P và ông Lê Quang L (Le L Quang) là hôn nhân hợp pháp.

Nguyên đơn hiện đang cư trú tại Thành phố Hồ Chí Minh; Bị đơn hiện cư

trú tại Hợp chúng quốc Hoa Kỳ nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35 và khoản 1 Điều 37 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc xét xử vắng mặt đương sự trong vụ án:

Nguyên đơn và bị đơn có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ vào

khoản 1 Điều 227; Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

Xét yêu cầu của bà Trần Thị P được ly hôn ông Lê Quang L (Le L

Quang) Hội đồng xét xử xét thấy: Qua lời trình bày của bà P và ông Lê Quang L (Le L Quang), thì thực tế sau khi kết hôn hai bên phát sinh mâu thuẫn không thể giải quyết được. Từ khi kết hôn cho đến nay, bà P và ông Lê Quang L (Le L Quang) không có quá trình chung sống lâu dài, do xa cách địa lý nên tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt, hai bên chưa có sự gắn kết sâu đậm về tình cảm vợ chồng. Hiện nay bà P và ông Lê Quang L (Le L Quang) đang sinh sống ở hai nước khác nhau nên khả năng đoàn tụ không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, bà P yêu cầu được ly hôn với ông Lê Quang L (Le L Quang) là phù hợp, Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung, tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ dân sự chung: Bà Trần

Thị P và ông Lê Quang L (Le L Quang) khai không có.

Án phí sơ thẩm:

Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm bà Trần Thị P phải chịu theo quy định của

pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bà Trần Thị P và ông Lê Quang L (Le L Quang) có

quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, khoản 1 Điều 37, Điều 147, Điều

228, Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 51, Điều 56 và Điều 127 của Luật Hôn nhân và gia đình

năm 2014;

Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy

ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp,

quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Căn cứ Luật Thi hành án dân sự.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị P.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị P được ly hôn ông Lê Quang L (Le L

Quang).

Giấy chứng nhận kết hôn số 45 do Ủy ban nhân dân huyện M, tỉnh N cấp

ngày 21/9/2018 cho bà Trần Thị P và ông Lê Quang L (Le L Quang) không còn

giá trị pháp lý.

Về con chung: Không có.

Về tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ dân sự chung: Không có.

2. Về án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng, bà Trần Thị P chịu và

được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng mà bà P đã nộp tạm ứng án phí theo biên

lai thu số AA/2021/0002038 ngày 27/4/2022 của Cục Thi hành án dân sự Thành

phố Hồ Chí Minh. Bà P đã nộp đủ tiền án phí.

3. Bà Trần Thị P được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày

tống đạt hợp lệ bản án. Ông Lê Quang L (Le L Quang) được quyền kháng cáo

trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ. Viện kiểm sát được

quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Cỡ chữ