- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Bình An - gây rối trật tự công cộng (điều 318 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 318; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Bình A 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm về tội “Gây rối trật tự công cộng”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 131/2026/HS-PT Ngày: 05 - 9 - 2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Minh Tuân
Các Thẩm phán: Ông Dương Văn Bản
Ông Nguyễn Thế Doanh
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Miên – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Đức Chiến - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 9 năm 2026 tại Trụ sở Toà án nhân tỉnh Thái Nguyên xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm, thụ lý số 119/2026/TLPT-HS ngày 17 tháng 8 năm 2026, do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Bình A đối với bản án hình sự sơ thẩm số 263/2026/HSST ngày 10/7/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Thái Nguyên.
Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Bình A, Tên gọi khác: Không; sinh ngày 01 tháng 01 năm 1991; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Tổ 7, phường Gia Sàng, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam Dân tộc: Kinh; Giới tính Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông Nguyễn Văn T; con bà Nguyễn Thị C; có vợ là Lường Thị V; có 02 con; Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 68/QĐ - VPHC ngày 29/12/2012 của Công an phường Gia Sàng, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 1.500.000đ về hành vi “Đánh bạc”, đã nộp phạt ngày 08/02/2012.
Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, Có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Hà Minh Phương – Công ty Luật TNHH Lâm Anh, Đoàn Luật sư tỉnh Thái Nguyên. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 21 giờ 10 phút ngày 05/02/2026, tổ công tác của Công an phường Gia Sàng, tỉnh Thái Nguyên đang làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát, khi tổ công tác đi đến khu vực đường dân sinh gần xưởng dịch vụ công ty Vinfast thuộc tổ dân phố 08, phường Gia Sàng, tỉnh Thái Nguyên thì phát hiện khu dân cư phía sau xưởng dịch vụ công ty Vinfast có nổ lớn nghi do đốt pháo. Tổ công tác đã tiến hành xác minh sự việc, tại khu vực đường dân sinh thuộc tổ 08, phường Gia Sàng, tỉnh Thái Nguyên, hai bên đường có nhiều hộ dân sinh sống, phát hiện trên mặt đường có nhiều mảnh giấy vụn màu đỏ có kích thước khác nhau nghi là vỏ của pháo nổ. Qua làm việc, có 01 nam thanh niên khai nhận là Nguyễn Bình A đã thực hiện hành vi đốt pháo nổ. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản sự việc, thu giữ các mảnh giấy vụn màu đỏ (niêm phong ký hiệu B gửi giám định), và 01 bật lửa do A giao nộp rồi mời Nguyễn Bình A và những người có liên quan về trụ sở để tiếp tục làm việc.
Tại bản kết luận giám định số 441/KL-KTHS ngày 24/02/2026 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên, kết luận: Nhiều mảnh giấy màu đỏ không rõ hình, có nhiều kích thước khác nhau, bờ mép nham nhở, có ám khói muội đen, ký hiệu B là sản phẩm của pháo nổ. Mẫu vật đã sử dụng hết trong quá trình giám định.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Bình A khai nhận: Khoảng cuối tháng 12/2025, khi A đi ăn liên hoan tất niên tại phường Tích Lương, tỉnh Thái Nguyên, thì A có nhìn thấy 01 người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) ở quán có 2,3 quả pháo nổ (dạng pháo tép), cuốn giấy màu đỏ. A nói chuyện với người này và xin người này 01 quả thì người đó đồng ý và đưa cho A. Đến ngày 05/02/2026 (là ngày 18/12/2025 âm lịch gần tết nguyên đán), khi A chuẩn bị đi ăn liên hoan, uống rượu tại nhà anh Nguyễn Việt Hưng thì A thấy quả pháo trên vẫn để trong túi áo nên A nảy sinh ý định sẽ đốt pháo khi đến nhà anh Hưng. Đến khoảng 21 giờ 10 phút ngày 05/02/2026, sau khi đến nhà anh Hưng, A đi về phía đường hướng ra đầu ngõ vào nhà Hưng rồi đi đến trước cửa số nhà 22 thuộc đường dân sinh gần nhà Hưng (thuộc tổ 8, phường Gia Sàng, tỉnh Thái Nguyên, là khu vực tập trung đông dân cư, nhiều nhà dân gồm có cả người già, trẻ em đang tập trung ăn uống). Sau đó, A dùng tay phải rút 01 quả pháo từ túi áo khoác A đang mặc rồi cầm quả pháo bằng tay phải, tay trái A cầm bật lửa bật lửa (là bật lửa của A sử dụng để hút thuốc lào và hay để trong túi quần) và châm vào đầu dây dẫn cháy của quả pháo, khi thấy pháo cháy A dùng tay phải vung lên trên, ném quả pháo về phía sau lưng A. Quả pháo rơi xuống khu vực đường bê tông thuộc lối đi chung của khu dân cư trước cửa số nhà 22, A quay lại đi bộ về phía nhà anh Hưng. Khi đang đi, A quay lại nhìn và nghe thấy tiếng pháo nổ (quả pháo nổ là quả pháo mà A vừa đốt và ném ra vị trí trên). Khi đó, A thấy có các mảnh giấy màu đỏ văng ra xung quanh. Khoảng 1-2 phút sau khi quả pháo phát nổ, thì nhiều người dân cả người già, trẻ em sinh sống ở 2 bên đường khu dân cư đi ra để xem ai đốt pháo, đồng thời tổ công tác của Công an phường Gia Sàng, tỉnh Thái Nguyên đã phát hiện, lập biên bản sự việc, thu giữ vật chứng như trên.
Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Bình A đã khai nhận hành vi phạm tội như trên, lời khai nhận của A phù hợp với biên bản sự việc, biên bản xác định hiện trường, kết luận giám định, lời khai của người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 263/2026/HSST ngày 10/7/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1- Thái Nguyên đã xét xử các bị cáo Nguyễn Bình A về tội: “Gây rối trật tự công cộng”;
Áp dụng khoản 1 Điều 318; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Bình A 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành bản án.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định xử lý vật chứng, nghĩa vụ nộp án phí và quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Ngày 17/7/2026 bị cáo Nguyễn Bình A kháng cáo xin hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên phát biểu quan điểm về vụ án: Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, đã ăn năn hối cải. Bị cáo chưa có tiền án tiền sự, mặc dù năm 2012 bị cáo đã bị xử phạt vi phạm hành chính nhưng tính đến ngày phạm tội lần này đã quá thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật, phạm tội lần này thuộc trường hợp ít nghiêm trọng sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo đã nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm, nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và không có tình tiết tăng nặng nên có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo, cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ tác dụng cải tạo giáo dục bị cáo.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm theo hướng giữ nguyên mức hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.
Bị cáo không tranh luận với kết luận của đại diện Viện kiểm sát.
Luật sư bào chữa cho bị cáo: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, hiện tại bị cáo là lao động chính trong gia đình, hoàn cảnh gia đình khó khăn, sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo đã nộp tiền án phí sơ thẩm, UBND phường Gia Sàng xác nhận việc bị cáo là lao động chính của gia đình. Đề nghị xem xét cho bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo.
Lời nói sau cùng, bị cáo xin được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Đơn kháng cáo của bị cáo làm trong hạn luật định và đúng theo thủ tục quy định nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
. Xét kháng cáo của bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, đã ăn năn hối cải, sau khi xét xử sơ thẩm đã nộp toàn bộ tiền án phí Hình sự sơ thẩm. Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, mặc dù bị cáo đã bị xử phạt vi phạm hành chính nhưng tính đến ngày phạm tội lần này đã quá thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật, phạm tội lần này thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và không có tình tiết tăng nặng nên có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo, cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ tác dụng cải tạo giáo dục bị cáo.
Đề nghị của Đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ chấp nhận
. Về án phí: Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét và đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự; chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Bình A, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 263/2026/HSST ngày 10/7/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1 -Thái Nguyên.
1. Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 318; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Bình A 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm về tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Giao bị cáo Nguyễn Bình A cho Uỷ ban nhân dân phường Gia Sàng, tỉnh Thái Nguyên quản lý, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 87 Luật thi hành án hình sự năm 2025.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bán án đã cho hưởng án treo, theo quy định tại Điều 89 Luật thi hành án hình sự năm 2025.
2. Ghi nhận bị cáo đã nộp số tiền 200.000 đồng là tiền án phí HSST, theo Biên lai thu tiền số 0000272, ngày 25/8/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Thái Nguyên.
3. Án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Bình A không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm số 263/2026/HSST ngày 10/7/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Thái Nguyên có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- VKSND tỉnh Thái Nguyên;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND khu vực 1 - Thái Nguyên;
- VKSND khu vực 1 - Thái Nguyên;
- THADS tỉnh Thái Nguyên;
- THADS khu vực 1 - Thái Nguyên;
- Bị cáo;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Đặng Minh Tuân Các hội thẩm nhân dân
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
Đặng Minh Tuân Nơi nhận:
T.M Hội đồng xét xử sơ thẩm
- VKSND TPTN
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà
- TAND tỉnh TN
- Chi cục THATPTN
- Bị cáo; Người bị hại;
- Lưu hồ sơ vụ án;
Đặng Minh Tuân Các hội thẩm nhân dân
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
Đặng Minh Tuân Nơi nhận:
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- VKSND TPTN
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà
- TAND tØnh TN
- Chi côc THATPTN
- BÞ c¸o;
- Ng êi bÞ h¹i;
- L u hå s¬ vô ¸n;
Đặng Minh Tuân CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Đặng Minh Tuân
| Nơi nhận: - VKSND TPTN - TAND tØnh TN - Chi côc THATPTN - BÞ c¸o; - Ng êi bÞ h¹i; - L u hå s¬ vô ¸n; .................................................. TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN BIÊN BẢN NGHỊ ÁN TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hà Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Đường- ông Đỗ Phượng Căn cứ vào Điều 199 và Điều 222 Bộ luật Tố tụng hình sự; đã tiến hành nghị án đối với vụ án Lương Đức Mạnh, Cố ý gây thương tích. xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác tại phiên toà; Hội đồng xét xử thảo luận về những vấn đề phải giải quyết trong vụ án hình sự như sau: phạm tội Cố ý gây thương tích. Kết quả biểu quyết: 3/3. 2. Về điều luật áp dụng: Điều 47; Điều 69 và Điều 74 BLHS; UBTVQH12 ngày 27/2/2009. Kết quả biểu quyết: 3/3. 3. Về mức hình phạt: Hội đồng xét xử nhất trí xử phạt bị cáo như sau: 15/12/2012. tuyên án để đảm bảo thi hành án. Kết quả biểu quyết: 3/3 4. Về các vấn đề khác: * Trách nhiệm dân sự: Nguyễn Quang Tựa tiền bồi dưỡng sức khỏe là 11.743.000đ (mười một triệu, bảy trăm bốn mươi ba ngàn đồng), được trừ 3.000.000đ (ba triệu đồng) đã bồi thường, còn phải bồi thường tiếp là 8.743.000đ (tám triệu, bảy trăm bốn mươi ba ngàn đồng). bị cáo Mạnh không tự nguyện bồi thường khoản tiền nêu trên thì hàng thánh bị cáo Mạnh còn phải trả một khoản tiền lãi, tính theo mức lãi xuất cơ bản tương đương với thời gian chậm thi hành án. Mạnh Tuấn. vào ngân sách nhà nước. Kết quả biểu quyết: 3/3. bản án theo quy định của pháp luật./. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN Nguyễn Đình Đường- Đỗ Phượng | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Đặng Minh Tuân CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM §éc lËp - Tù do - H¹nh phóc Thái Nguyên, ngày 28 tháng 5 năm 2013 Hôm nay, ngày 28 tháng 5 năm 2013, tại phòng nghị án, Hội đồng xét xử sơ thẩm Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở 1. Về tội danh: Hội đồng xét xử nhất trí xác định bị cáo Lương Đức Mạnh, Hội đồng xét xử nhất trí: Áp dụng khoản 3 Điều 104; điểm b, p khoản 1 Điều 46; Các điều 604, 605, 609, 616 và khoản 2 Điều 305 BLDS; Điều 42 BLHS Điều 99 BLTTHS; Điều 22 Pháp lệnh án phí và lệ phí Toà án số 10/2009/PL- - Lương Đức Mạnh 36 (ba mươi sáu) tháng tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày Căn cứ Điều 228 BLTTHS: Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày - Buộc bị cáo Lương Đức Mạnh bồi thường (theo kỷ phần) cho anh Kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật, bị hại có đơn yêu cầu thi hành án, nếu - Phần thiệt hại còn lại của người bị hại sẽ được giải quyết khi bắt được Trần * Án phí: buộc bị cáo phải nộp 200.000đ án phí HSST và 437.000 án phí DSST Bị cáo, người bị hại, người đại diện hợp pháp cho bị cáo có quyền kháng cáo THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Thu Hà |