vanban.org

Bản án 131/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn của chị Tòng Thị H đối với anh Lường Văn T.

Xử cho chị Tòng Thị H được ly hôn anh Lường Văn T. Về con chung: Giao cháu Lường Hà M, sinh ngày 25/5/2022 cho chị Tòng Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; giao cháu Tòng Thị Quỳnh N, sinh ngày 04/11/2020 cho anh Lường Văn T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi các cháu đ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa chị Tòng Thji H và anh Lường văn T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn của chị Tòng Thị H đối với anh Lường Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2- SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 131/2026/HNGĐ- ST
Ngày: 13-7-2026
V/v: Ly hôn, nuôi con chung.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2- SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lò Mai Xiêng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lò Minh Thương, bà Lê Bích Thuận.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lò Thị Hiền- Thư ký Toà án nhân dân khu vực 2-Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2- Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Bạc Cầm Hưng- Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2- Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 191/2026/TLST - HNGĐ ngày 26 tháng 02 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 133/2026/QĐXXST- HNGĐ, ngày 11 tháng 6 năm 2026, Quyết định hoãn phiên tòa số: 149/2026/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 6 năm 2026; Quyết định hoãn phiên tòa số: 155/2026/QĐST-HNGĐ ngày 03 tháng 7 năm 2026 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Tòng Thị H, sinh năm 2004.

Địa chỉ: Bản Ng, xã M, tỉnh Sơn La.

(Vắng mặt tại phiên tòa, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

2. Bị đơn: Anh Lường Văn T, sinh năm 1997.

Địa chỉ: Bản H, xã M, tỉnh Sơn La.

(Vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản lấy lời khai và đơn xin xét xử vắng mặt nguyên đơn chị Tòng Thị H trình bày:

Về hôn nhân: Chị Tòng Thị H và anh Lường Văn T kết hôn với nhau, đăng ký kết hôn ngày 23/8/2023 tại Ủy ban nhân dân xã M, tỉnh Sơn La, kết hôn tự nguyện không bị ép buộc. Quá trình chung sống hạnh phúc đến năm 2024 có phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi vã, vợ chồng không có tiếng nói chung, mâu thuẫn trầm trọng kéo dài, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2024 cho đến nay, không ai quan tâm đến ai. Chị Tòng Thị H xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị ly hôn với anh Lường Văn T.

Về con chung: Chị Tòng Thị H và anh Lường Văn T có 02 (hai) con chung là cháu Tòng Thị Quỳnh N, sinh ngày 04/11/2020 và cháu Lường Hà M, sinh ngày 25/5/2022. Kể từ khi sống ly thân cho đến nay, cháu Lường Hà M ở với chị Tòng Thị H, cháu Tòng Thị Quỳnh N ở với anh Lường Văn T.

Chị Tòng Thị H đề nghị được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Lường Hà M; chị Hương đề nghị anh Lường Văn T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Tòng Thị Quỳnh N.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Tòng Thị H, anh Lường Văn T không cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Không có.

Về tài sản riêng: Không có.

Về nợ chung: Chị Tòng Thị H cam đoan không có nợ chung.

Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ ngày 26/5/2026, ngoài những tài liệu, chứng cứ do chị Hương đã giao nộp, chị Hương không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì thêm và không yêu cầu triệu tập đương sự khác, người làm chứng, người tham gia tố tụng khác.

Tại biên bản xác minh ngày 25/5/2026 tại bản Hát Lụ, xã Mường É, tỉnh Sơn La, chị Tòng Thị H và anh Lường Văn T có đăng ký kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân xã Mường É, tỉnh Sơn La. Trong quá trình chung sống có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn không nắm rõ. Hiện nay Tòng Thị H và anh Lường Văn T đã sống ly thân. Chị Tòng Thị H và anh Lường Văn T có 02 (hai) con chung là cháu Tòng Thị Quỳnh N, sinh ngày 04/11/2020 và cháu Lường Hà M, sinh ngày 25/5/2022. Hiện tại cháu My đang ở với chị Hương, cháu Nga đang ở với anh Tiến. Tài sản chung, nợ chung: Không nắm được.

Bị đơn anh Lường Văn T đã được triệu tập hợp lệ, giao thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập đương sự, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo về kết quả về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, các Quyết định hoãn phiên tòa của Tòa án nhân dân khu vực 2-Sơn La. Anh Lường Văn T không chấp hành giấy triệu tập của Tòa án, không viết bản tự khai, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và phiên hòa giải.

Chị Tòng Thị H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt: Chị Hương giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và ý kiến trong bản tự khai.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 2- Sơn La phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán: Kể từ khi Tòa án tiến hành thụ lý vụ án cho đến khi ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán đã thực hiện các thủ tục tố tụng theo đúng quy định của pháp luật.

Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử tham gia đúng thành phần trong quyết định đưa vụ án ra xét xử, các trình tự của phiên tòa diễn ra theo đúng quy định của pháp luật.

Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện không đầy đủ các quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc Tòa án mở phiên tòa xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng quy định pháp luật.

Viện kiểm sát đề nghị áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 5; Điều 28, Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Tòng Thị H được ly hôn anh Lường Văn T.

Về con chung: Giao cháu Lường Hà M, sinh ngày 25/5/2022 cho chị Tòng Thị H được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; giao cháu Tòng Thị Quỳnh N, sinh ngày 04/11/2020 cho anh Lường Văn T được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Tòng Thị H, anh Lường Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Không có.

Về tài sản riêng: Không có.

Về nợ chung: Chị Tòng Thị H, anh Lường Văn T không có nợ chung.

Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch theo quy định của pháp luật cho nguyên đơn chị Tòng Thị H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về pháp luật tố tụng:

Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn chị Tòng Thị H yêu cầu giải quyết ly hôn với bị đơn anh Lường Văn T có địa chỉ tại bản Hát Lụ, xã Mường É, tỉnh Sơn La. Tòa án nhân dân khu vực 2- Sơn La thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền, nên xác định quan hệ pháp luật là vụ án Ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thủ tục hoà giải: Nguyên đơn có đơn đề nghị không tiến hành hoà giải, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ mà vẫn cố tình vắng mặt, do vậy vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hoà giải được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn chị Tòng Thị H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn. Bị đơn anh Lường Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ ba vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Tòng Thị H và anh Lường Văn T kết hôn với nhau, đăng ký kết hôn ngày 23/8/2023 tại Ủy ban nhân dân Mường É, tỉnh Sơn La, kết hôn tự nguyện không bị ép buộc. Quá trình chung sống hòa thuận đến năm 2024 có phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi vã, không có tiếng nói chung, hôn nhân gia đình trở nên bế tắc, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị Tòng Thị H và anh Lường Văn T đã sống ly thân từ năm 2024 cho đến nay, không ai quan tâm tới cuộc sống của ai. Chị Hương cho rằng tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị được ly hôn anh Lường Văn T.

Trên cơ sở xem xét các tài liệu, chứng cứ, bản tự khai, biên bản xác minh tại chính quyền địa phương.

Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Hương và anh Tiến lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, xử cho chị Tòng Thị H được ly hôn anh Lường Văn T. Căn cứ vào các Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Chị Tòng Thị H và anh Lường Văn T có 02 (hai) con chung là cháu Tòng Thị Quỳnh N, sinh ngày 04/11/2020 và cháu Lường Hà M, sinh ngày 25/5/2022.

Chị Tòng Thị H đề nghị được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Lường Hà M; chị Hương đề nghị anh Lường Văn T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Tòng Thị Quỳnh N.

Chị Tòng Thị H và anh Lường Văn T đều có nơi cư trú rõ ràng, trồng trọt, chăn nuôi, có thu nhập ổn định. Từ ngày vợ chồng sống ly thân năm 2024 cho đến nay, chị Tòng Thị H là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Lường Hà M; anh Lường Văn T là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Tòng Thị Quỳnh N.

Từ các căn cứ nêu trên xét thấy: Để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con, sự phát triển về thể chất, tâm sinh lý, cần giao cháu Lường Hà M, sinh ngày 25/5/2022 cho chị Tòng Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; giao cháu Tòng Thị Quỳnh N, sinh ngày 04/11/2020 cho anh Lường Văn T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Tòng Thị H không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung; anh Lường Văn T đã được triệu tập hợp lệ, giao các văn bản tố tụng, nhưng anh Tiến không chấp hành giấy triệu tập của Tòa án, không viết bản tự khai, không có ý kiến về việc cấp dưỡng nuôi con chung. Do đó Tòng Thị H và anh Lường Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con chung là có căn cứ cần chấp nhận.

Căn cứ Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về tài sản chung: Không có.

Về tài sản riêng: Không có.

Về nợ chung: Chị Tòng Thị H, anh Lường Văn T không có nợ chung.

Về án phí: Chị Tòng Thị H có đơn xin miễn án phí dân sự sơ thẩm, xét thấy chị Tòng Thị H là người dân tộc thiểu số sống ở bản có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn, căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch cho nguyên đơn chị Tòng Thị H.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 51; Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 1 Điều 28, Điều 35; Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn của chị Tòng Thị H đối với anh Lường Văn T.

Xử cho chị Tòng Thị H được ly hôn anh Lường Văn T.

2. Về con chung: Giao cháu Lường Hà M, sinh ngày 25/5/2022 cho chị Tòng Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; giao cháu Tòng Thị Quỳnh N, sinh ngày 04/11/2020 cho anh Lường Văn T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này, không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Tòng Thị H, anh Lường Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

3. Về tài sản chung: Không có.

4. Về tài sản riêng: Không có.

5. Về nợ chung: Chị Tòng Thị H, anh Lường Văn T không có nợ chung.

6. Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch cho nguyên đơn chị Tòng Thị H.

8. Về quyền kháng cáo: Chị Tòng Thị H, anh Lường Văn T được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết theo quy định./.

Cỡ chữ