vanban.org

Bản án 131/2025/DS-ST — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng

TAND TP. Cà Mau, tỉnh Cà Mau Tuyên án 24/04/2025 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao.

1/ Chấp nhận yêu cầu của khởi kiện của ông Diệp Văn Ngh. Buộc ông Nguyễn Nhựt D và bà Hồng Mỹ L bồi thường cho ông Diệp Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng — án dân sự — "Nghiệp - Duy"
  • Tòa quyết gì? HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao.
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
THÀNH PHỐ CÀ MAU,
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 131/2025/DS-ST
Ngày 24 tháng 4 năm 2025
“V/v Tranh chấp bồi thường thiệt hại
về sức khỏe”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thắm.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Võ Thanh Liêm.

Ông Nguyễn Hoàng Kha.

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Mai - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau.

Ngày 24 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 124/2025/TLST- DS ngày 10 tháng 3 năm 2025 về việc tranh chấp “Bồi thường thiệt hại về sức khỏe” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 157/2025/QĐXXST - DS ngày 01/4/2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Diệp Văn Ng; Sinh năm 1957;

Địa chỉ cư trú: Nhà không số, ấp Tân D, xã An X, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau;

Đại diện ủy quyền cho nguyên đơn ông Diệp Văn K, sinh năm 1988 (văn bản ủy quyền ngày 31/3/2025).

Địa chỉ cư trú: Ấp Tân D, xã An X, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Nhựt D; Sinh năm 2004;

Địa chỉ cư trú: Ấp , xã Tân Th, thị xã Giá R, tỉnh B Liêu;

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Bà Hồng Mỹ L, sinh năm 1976.

Địa chỉ cư trú: Ấp , xã Tân Th, thị xã Giá R, tỉnh Bạc L;

(Tại phiên tòa ông K, ông D, bà L có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Ông Diệp Văn K là đại diện ủy quyền của nguyên đơn trình bày trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa như sau:

Vào ngày 29/12/2024, tại khóm 1, phường Tân Thành, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau ông Nguyễn Nhựt D điều khiển xe mô tô biển số 94D1-367.25 va chạm với ông Ngh đang chạy xe đạp tông từ phía sau đến, được biết chủ xe mô tô trên là bà Hồng Mỹ L (mẹ ruột ông D) giao cho D chạy. Hậu quả ông Ngh bị xuất huyết não với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 35% (theo thông báo kết luận giám định số 823, ngày 27/02/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Tp Cà Mau). Sau đó, ông Ngh có yêu cầu Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Tp Cà Mau giải quyết yêu cầu gia đình ông D bồi thường thiệt hại.

Tuy nhiên, gia đình ông D chỉ bồi thường cho Ngh được 3.000.000 đồng (ba triệu đồng) cho đến nay không có bồi thường thêm. Đến ngày 27/02/2025, ông Ngh nhận được Thông báo số 824 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Tp Cà Mau về việc không khởi tố vụ án hình sự đối với ông D.

Nay ông Ngh khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc ông Nguyễn Nhựt D cùng bà Hồng Mỹ L liên đới bồi thường thiệt hại cho ông Ngh như sau:

1. Chi phí điều trị (từ ngày 29/12/2024 – cho đến nay) tại Bệnh viện Đa khoa Quốc Tế SIS Cần Thơ và thuốc men là 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng).

2. Chi phí ăn, uống, tả, sữa của người điều trị và người nuôi tại Bệnh viện là 13 ngày x 400.000đ/ngày = 5.200.000 đồng.

Chi phí đi lại điều trị và tái khám:

- Xe cấp cứu từ Bệnh viện Cà Mau và Bệnh viện Đa khoa Quốc Tế SIS Cần Thơ là 3.500.000 đồng.

Xe bao đi tái khám 05 lượt x 1.600.000đ/lượt = 8.000.000 đồng.

4. Bồi thường thu nhập hàng ngày của tôi (từ ngày 29/12/2024 – tạm tính đến 29/12/2025), nghề nghiệp hiện tại của ông Nghiệp là nhặt ve chai tổng thu nhập 100.000đ/ngày x 365 ngày tổng là 36.500.000 đồng.

5. Bồi thường thu nhập hàng ngày của người nuôi (từ ngày 29/12/2024 - tạm tính đến ngày 10/01/2025), nghề nghiệp của con trai tôi (Diệp Văn K) là kinh doanh, sửa chữa điện cơ, điện lạnh thu nhập 2.000.000đ/ngày x 13 ngày tổng là 26.000.000 đồng.

6. Bù đắp tổn thất tinh thần là 20 tháng lương cơ bản theo quy định pháp luật tổng là 46.800.000 đồng.

Tổng cộng bồi thường thiệt hại cho ông Ngh là 163.000.000 đồng.

Tại phiên tòa ông K xác định đối với tiền thuốc toa vé theo hóa đơn chứng từ bằng 35.156.966 đồng, ăn uống, thuê xe giữ nguyên yêu cầu.

Đối với tiền mất thu nhập người nuôi bệnh không yêu cầu, đối với tiền thu nhập của người bệnh và tổn thất tinh thần yêu cầu Tòa án điều chỉnh theo quy định của pháp luật.

*Ông Nguyễn Nhựt D là bị đơn trình bày:

Ông thừa nhận ông là người trực tiếp gây ra tai nạn cho ông Ngh, dẫn đến

hậu quả làm cho ông Ngh phải nằm điều trị tại bệnh viện, ông thống nhất với bệnh lý mà lúc xãy ra tai nạn với ông Ngh, còn các bệnh lý khác ông không thống nhất, ông yêu cầu Tòa án điều chỉnh theo quy định của pháp luật.

* Bà Hồng Mỹ L trình bày tại phiên tòa như sau: Bà L thống nhất theo lời trình bày của ông D. Tại phiên tòa bà L thống nhất tiền ăn uống, thuê xe, các yêu cầu của nguyên đơn còn lại bà yêu cầu Tòa án điều chỉnh theo quy quy pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp qua thẩm tra các chứng cứ và quá trình tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: Tranh chấp giữa các đương sự được xác định là tranh chấp “Bồi thường thiệt hại về sức khỏe”.

Tại phiên tòa các đương sự thống nhất ông D là người gây tai nạn cho ông Ngh sau đó đưa ông Ngh đến bệnh viện cấp cứu là thực tế có diễn ra.

Chứng cứ nguyên đơn cung cấp có tại hồ sơ gồm các chứng từ, hóa đơn nằm viện ông Diệp Văn Ngh tại bệnh viện cần Thơ SIS nằm điều trị 13 ngày từ ngày 29/12/2024 đến ngày 10/01/2025 xuất viện; đến ngày 07/2/2025 ông Nghiệp tái khám, có 03 chứng từ; đến ngày 11/3/2025 ông Ngh đi tái khám có 03 chứng từ; đến ngày 09/4/2025 có 03 chứng từ.

Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Phải có thiệt hại xảy ra, phải có hành vi trái pháp luật, phải có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại xảy ra và hành vi trái pháp luật, phải có lỗi cố ý hoặc vô ý của người gây thiệt hại.

Căn cứ vào trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo yêu cầu của nguyên đơn thì đảm bảo các yếu tố trên xác định ông Nguyễn Nhựt D gây thương tích cho ông Diệp Văn Ngh làm cho ông Ngh bị xuất huyết não, phải nằm điều trị bệnh và tái khám nhiều lần, làm ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe của ông Ngh sau này, đúng như đại diện ông Ngh trình bày. Đồng thời, bà L, ông D xác định sau khi gây tai nạn có đưa cho ông Ngh số tiền 3.000.000 đồng để khắc phục hậu quả, có đến thăm hỏi ...v..vv.

Nên có đủ căn cứ xác định ông D là người trực tiếp gây thương tích ảnh hưởng đến sức khỏe của ông Diệp Văn Ngh là thực tế có xảy ra. Do đó yêu cầu tiền thuốc, đi lại, mất thu nhập, tiền xe đi lại có căn cứ chấp nhận, tuy nhiên với số tiền còn lại cần điều chỉnh phù hợp như sau: Đối chiếu tại Khoản 1, 2 Điều 590 của Bộ Luật dân sự năm 2015 quy định như sau:

1/ “Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm gồm:

A) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;

B) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại.

C) Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị.

D) Thiệt hại khác do luật quy định”.

Tổng thiệt hại sức khỏe là 163.000.000 đồng.

Tại phiên tòa ông Kết thống nhất điều chỉnh phần tiền thu nhập của người bệnh và tiền tổn thất tinh thần, đối với bị đơn và người liên quan thống nhất tiền thuốc có hóa đơn chứng từ, tiền ăn uống, tiền thuê xe đồng ý. Cho nên cần điều chỉnh phù hợp như sau:

Căn cứ chứng từ hợp lệ được chấp nhận có toa vé là 35.156.966 đồng + ăn uống 5.200.000 đồng + thuê xe 05 lần 9.900.000 đồng + mất thu nhập của ông Nghiệp 06 tháng x 3.000.000 đồng/tháng bằng 18.000.000 đồng + tiền tổn thất tinh thần bằng 15 tháng lương cơ cở x 2.340.000 đồng bằng 35.100.000 đồng. Tổng cộng bằng 103.356.966 đồng .

Tại phiên tòa ông K không yêu cầu đối với tiền mất thu nhập người nuôi bệnh không xem xét đến.

Đối trừ số tiền ông D và bà L đã khắc phục được 3.000.000 đồng, số tiền còn lại 100.356.966 đồng.

Từ phân tích trên chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn và người liên quan thanh toán số tiền 100.356.966 đồng cho nguyên đơn là phù hợp.

Về trách nhiệm thanh toán: Bà L giao xe cho ông D sử dụng gây tai nạn, nên buộc bà L và ông D có trách nhiệm thanh toán cho ông Ngh là có căn cứ.

Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Về án phí dân sự sơ thẩm, nguyên đơn được miễn dự nộp không xét hoàn lại. Bị đơn và người liên quan phải nộp án phí trên số tiền nguyên đơn được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ các Điều 584, 585, 589; 590, 601 của bộ Dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 03/2006/NQ –

HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao.

1/ Chấp nhận yêu cầu của khởi kiện của ông Diệp Văn Ngh.

Buộc ông Nguyễn Nhựt D và bà Hồng Mỹ L bồi thường cho ông Diệp

Văn Ngh bằng 100.356.966 đồng (Một trăm triệu, ba trăm năm mươi sáu nghìn, chín trăm sáu mươi sáu đồng ).

Kể từ ngày ông Diệp Văn Ngh có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông

Nguyễn Nhựt D và bà Hồng Mỹ L không tự nguyện thi hành xong, thì phải trả thêm khoản lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại điều 468 của Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành.

2/ Án phí dân sự sơ thẩm nguyên đơn không phải nộp.

Án phí dân sự sơ thẩm ông Nguyễn Nhựt D và bà Hồng Mỹ L phải nộp là 5.018.000 đồng (chưa nộp).

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ