- Tranh chấp gì? án hình sự — "An Văn H tàng trữ ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo An Văn H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N TỈNH N | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 131 /2023/HSST Ngày 26/10/2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N - TỈNH N
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bích T
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Quách Thị Thu H
Bà Hoàng Thị Kim P
-Thƣ ký phiên toà: Ông Bùi Đức T, Thư ký Toà án nhân dân thành phố N - tỉnh N.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N - tỉnh N tham gia phiên toà: Ông Bùi Hoàng T, Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 10 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh N xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 125/2023/HSST ngày 05 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 125/2023/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo:
An Văn H, sinh năm: 1988. Giới tính: Nam. Tên gọi khác: không. Nơi cư trú: thôn Phúc Sơn 2, xã Ninh Tiến, thành phố N, tỉnh N. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 12/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông: không xác định được và bà An Thị L, sinh năm 1944. Vợ: Trương Thị D. Con: có 3 con, con lớn nhất sinh năm 2013, con nhỏ nhất sinh năm 2018.Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo thuộc đối tượng Hộ nghèo nhưng từ chối trợ giúp pháp lý miễn phí.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/8/2023 đến ngày 12/8/2023 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh N. Có mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:Anh Hoàng Văn M, sinh năm 1989.Trú tại: thôn Phúc Sơn 2, xã Ninh Tiến, thành phố N, tỉnh N. vắng mặt.
Người làm chứng: Ông Phạm Văn T.
Ông Đỗ Văn L.
(Đều vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
An Văn H là người sử dụng ma túy. Khoảng 23 giờ 20 phút ngày 04/8/2023, do có nhu cầu sử dụng ma túy H điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 35B1-225.65 đi từ nhà đến khu vực phường Ninh Phong tìm mua ma túy đá để sử dụng. Khi đến khu vực phố Phong Đoài, phường Ninh Phong, H gặp 01 người thanh niên khoảng 30 tuổi, dáng người gầy giống người nghiện ma túy nên hỏi mua 500.000 đồng ma túy đá thì người thanh niên này đồng ý sau đó dẫn H đi đến vị trí để ma túy. Đi được khoảng 50 mét người này chỉ cho H gói ma túy đang ở dưới đất được gói bên ngoài bằng chiếc khẩu trang y tế màu xanh có kích thước khoảng 2x4 cm. H đưa cho người thanh niên 500.000 đồng, người này cầm tiền rồi bỏ đi còn H đi xe đến vị trí mà người thanh niên chỉ sau đó H dùng tay trái nhặt gói ma túy lên. Khoảng 23 giờ 35 phút cùng ngày, tổ công tác Công an phường Ninh Phong làm nhiệm vụ tại khu vực thấy H ngồi trên xe cúi xuống nhặt vật gì đó ở dưới đất có biểu hiện nghi vấn. Tổ công tác đến yêu cầu kiểm tra, quá trình kiểm tra H thả từ tay trái xuống mặt đất, cạnh chân H đứng 01 gói nhỏ được gói bên ngoài bằng khẩu trang y tế màu xanh thì bị tổ công tác phát hiện yêu cầu H cầm lên giao nộp. H chấp hành và khai nhận gói nhỏ được gói bên ngoài bằng khẩu trang y tế màu xanh bên trong là ma túy đá vừa mua được của một người thanh niên để về sử dụng. Tổ công tác đã tiến hành niêm phong gói nhỏ có đặc điểm trên theo đúng quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t, đưa tang vật và mời người làm chứng về trụ sở Công an phường Ninh Phong lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Ngoài ra còn thu giữ của H 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade màu đỏ đen biển kiểm soát 35B1-225.65.
Tiến hành cân xác định khối lượng chất tinh thể màu trắng trong túi nilon được gói bên ngoài bằng khẩu trang y tế màu xanh thu giữ của H có khối lượng 0,34 gam ký hiệu M1 gửi đi giám định để xác định khối lượng ma túy, loại ma túy.
Tại bản kết luận giám định số 637/KL- KTHS -MT ngày 11/8/2023 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh N kết luận “Mẫu gửi giám định ký hiệu M1 có khối lượng 0,3314 gam, là ma túy, loại Methamphetamine. Methamphetamine là chất ma túy thuộc bảng danh mục IIC, số thứ tự 247; Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ”. Hoàn lại đối tượng giám định gồm: Mẫu ký hiệu M1 còn lại có khối lượng 0,2474 gam, là ma túy loại Methamphetamine; Toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong. Tất cả được niêm phong trong phong bì “Mẫu vật hoàn trả sau giám định” có ghi số 637/KL-KTHS-MT.
Đối với 0,2474 gam Methamphetamine còn lại sau giám định cùng vỏ gói ban đầu và phong bì niêm phong gửi giám định; 01 phong bì niêm phong bên trong có 01 khẩu trang y tế màu xanh, vỏ túi nilon và phong bì niêm phong ban đầu được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố N quản lý giải quyết cùng vụ án.
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade màu đỏ đen, biển kiểm soát 35B1-225.65 quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của anh Hoàng Văn M, sinh năm 1989, trú tại thôn Phúc Sơn, xã Ninh Tiến, thành phố N (là em họ của H). Ngày 04/8/2023, H mượn xe của anh M nói đi có việc. Sau đó H sử dụng xe đi mua ma túy anh M không biết, do vậy Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho anh M.
Tại bản Cáo trạng số 122/CT- VKS ngày 03/10/2023 Viện kiểm sát nhân dân thành phố N đã truy tố An Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 đề nghị xử phạt bị cáo từ 21 đến 24 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 05/8/2023. Không áp dụng phạt tiền bổ sung đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy thu giữ của An Văn H được hoàn lại sau khi giám định cùng vỏ bao giấy gói niêm phong ban đầu. Về án phí: Áp dụng Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án, miễn án phí cho bị cáo do là Hộ nghèo.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo cũng đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, không có tranh luận gì và xin giảm nhẹ hình phạt để sớm về với gia đình chăm sóc mẹ già và con nhỏ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Vào hồi 23 giờ 35 phút ngày 04/8/2023 tại phố Phong Đoài, phường Ninh Phong, thành phố N, An Văn H có hành vi cất giấu trái phép 0,3314 gam ma túy loại Methamphetamine đựng trong túi nilong màu trắng kích thước 1,5 x2cm được gói ngoài bằng khẩu trang y tế màu xanh nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Khi bị tổ công tác phát hiện, bị cáo đã thả từ tay trái của mình gói ma túy xuống đất, tổ công tác đã yêu cầu bị cáo nhặt lên giao nộp.
Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, Biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong đồ vật tài liệu bị tạm giữ; biên bản mở niêm phong đồ vật tài liệu bị tạm giữ; kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý. Việc bị cáo cất giữ ma túy để sử dụng là một trong những nguyên nhân gây ra các tệ nạn và hậu quả không lường cho xã hội mà Đảng và Nhà nước ta đang ra sức ngăn chặn.
Đối chiếu với quy định của pháp luật hình sự, đã đủ cơ sở xác định hành vi cất giữ trái phép chất ma túy của bị cáo An Văn H để sử dụng là phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được qui định tại điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố N đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
…………………………………..… …
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
…………………………………………
Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân, hoàn cảnh gia đình của bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự;
Về tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, hoàn cảnh gia đình của bị cáo hiện tại khó khăn: Bị cáo thuộc Hộ nghèo, vợ bị cáo hiện đang chấp hành án tại trại giam Ninh Khánh, gia đình có 03 con còn nhỏ đang tuổi ăn học, mẹ bị cáo là người có thành tích trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước được thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhì, đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.
Từ những phân tích đánh giá nói trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt bị cáo hình phạt tù tương xứng cách ly với xã hội một thời gian để bị cáo có điều kiện cai nghiện và cải tạo thành công dân có ích cho xã hội đồng thời cũng nhằm để giáo dục pháp luật và phòng ngừa chung.
Bị cáo tàng trữ ma tuý để sử dụng, không nhằm mục đích vụ lợi, do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
. Về xử lý vật chứng: Đối với số ma túy thu giữ của bị cáo được cơ quan giám định hoàn lại là vật cấm lưu hành không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.
.Các vấn đề khác:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nguồn gốc số ma túy Methamphetamine thu giữ, An Văn H khai mua của ngườ i thanh niên không rõ tên tuổi địa chỉ cụ thể. Do đó không có cơ sở để điều tra làm rõ.
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade màu đỏ đen, biển kiểm soát 35B1-225.65 thu giữ của bị cáo, là tài sản hợp pháp của anh Hoàng Văn M (là em họ bị cáo). Việc bị cáo sử dụng để đi mua ma túy anh M không biết, do vậy Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho anh M theo quy định. Đến nay anh M không có ý kiến đề nghị gì.
Về án phí: Bị cáo thuộc hộ nghèo nên được miễn án phí theo quy định của pháp luật.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời gian luật định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tuyên bố: Bị cáo An Văn H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt An Văn H 21 (Hai mươi mốt) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 05/8/2023
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, khoản 2, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy số ma túy thu giữ được hoàn lại sau giám định cùng vỏ bao giấy gói niêm phong ban đầu.
(Vật chứng có số lượng, đặc điểm theo như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 23 tháng 10 năm 2023 giữa Công an Thành phố N và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố N).
3. Về án phí: Áp dụng Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh N - VKSND thành phố N . (đã ký) - Công an thành phố N. - Trại tạm giam - Chi cục THA. DS thành phố N - Thi hành án HS - Bị cáo, NCQLNVLQ. - Lưu hồ sơ - Lưu VP | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Thị Bích T |