vanban.org

Bản án 131/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Hóc Môn, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 27/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về mức hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn C 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/3/2023. Về xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÓC MÔN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 131/2023/HSST
Ngày: 27/7/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Thương.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Dương Văn Quí.

2. Bà Nguyễn Thị Kim Liên.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Oanh, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Hải, Kiểm sát viên.

Trong ngày 27 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 137/2023/TLST-HS ngày 24 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 182/2023/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 7 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 154/2023/HSST-QĐ ngày 18 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn C, sinh năm 1992 tại tỉnh Bình Dương; nơi thường trú: Khu phố A, phường T, Thị xã C, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn P và bà: Nguyễn B; có vợ tên: Sơn T, có 02 người con (sinh năm 2013 và sinh năm 2018);

Tiền án:

+ Ngày 30/01/2018, bị Tòa án nhân dân Thị xã C, tỉnh Bình Dương xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 12/2018/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 14/6/2018.

+ Ngày 10/6/2020, bị Tòa án nhân dân Thành phố M, tỉnh Bình Dương xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 108/2020/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 12/6/2022.

Tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 20/6/2008, Ủy ban Nhân dân Thành phố M, tỉnh Bình Dương áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng trong thời hạn 24 tháng về hành vi “Trộm cắp tài sản” theo Quyết định số 120/QĐ-UB.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/3/2023 tại Nhà tạm giữ Công an huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Đoàn T, sinh năm 1969; Nơi cư trú: 23/1, ấp 1, xã B, huyện M, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có tiền tiêu xài nên khoảng 08 giờ 30 phút, ngày 03/3/2023, Nguyễn C điều khiển xe gắn máy biển số 61L2-7032 đi lòng vòng tìm người dân có tài sản sơ hở để lấy trộm. Khi chạy đến trước số nhà 101/57 Trịnh Thị Dối, ấp 4, xã Đông Thạnh, huyện Hóc Môn, C phát hiện xe gắn máy hiệu Honda Vision biển số 50Y1-465.68 của bà T đang dựng trên lề đường, trên hộc xe bên trái có để 01 điện thoại di động hiệu Xiaomi 11 Lite 5G NE màu xanh, không có người trông coi nên C dừng xe, đi bộ lại rồi dùng tay phải lấy trộm điện thoại bỏ vào túi quần và điều khiển xe tẩu thoát. Khi C đang lưu thông trên đường Nguyễn Văn Long thuộc phường Chánh Mỹ, Thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương thì bị lực lượng công an phường Chánh Mỹ đang phối hợp các đội nghiệp vụ điều tra về kinh tế và ma túy tuần tra phát hiện có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành mời C về trụ sở làm việc. Qua kiểm tra trên người C phát hiện điện thoại di động mà C đã lấy trộm của bà T nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương đã chuyển hồ sơ cũng tang vật cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hóc Môn thụ lý theo thẩm quyền.

Kết luận định giá tài sản số 34/KL-HĐĐGTS ngày 10/3/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự, Ủy ban nhân dân huyện Hóc Môn kết luận: “01 điện thoại di động hiệu Xiaomi 11 Lite SG NE màu xanh, dung lượng 128GB, số tiền 4.500.000 đồng”.

- Vật chứng thu giữ:

+ 01 áo thun vải ngắn tay màu xanh là trang phục C mặc khi thực hiện hành vi phạm tội.

+ 01 điện thoại di động hiệu Xiaomi 11 Lite 5G NE màu xanh số IMEI 1: 861783057286808; IMEI 2: 861783057286816. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hóc Môn đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho bà Ty.

+ 01 xe máy hiệu ANWEN màu đỏ biển số 61L2-7032, số khung RRHWCHORH7A006620, số máy VTH152FMH7006620. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hóc Môn đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho bà P.

- Về dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn C đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung trên.

Tại bản cáo trạng số 151/CT-VKSHM ngày 23/5/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn C về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa trình bày lời luận tội giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn C mức hình phạt từ 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.

- Về dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu nên không xem xét.

- Về vật chứng của vụ án: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 áo thun vải ngắn tay màu xanh.

- Về án phí: Đề nghị buộc bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hóc Môn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại. Vì vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện là hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Vào lúc 8 giờ 30 ngày 03/3/2023 tại trước địa chỉ 101/57 Trịnh Thị Dối, ấp 4, xã Đông Thạnh, huyện Hóc Môn. Nguyễn C đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động hiệu Xiaomi 11 Lite SG NE màu xanh trị giá 4.500.000 đồng của bà T. C đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý.

Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn C phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Hành vi của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng vẫn thực hiện. Hành vi của bị cáo đã làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự của xã hội nên cần có một hình phạt tương xứng để răn đe, giáo dục bị cáo.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự là phù hợp.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về vật chứng của vụ án:

- 01 áo thun vải ngắn tay màu xanh, là trang phục C mặc khi thực hiện hành vi phạm tội. Xét thấy, vật chứng này có giá trị sử dụng còn lại thấp. Đồng thời, bị cáo trình bày tại phiên tòa là không có yêu cầu nhận lại nên hội đồng xét xử quyết định tịch thu và tiêu hủy là phù hợp

- 01 điện thoại di động hiệu Xiaomi 11 Lite 5G NE màu xanh, số IMEI 1: 861783057286808, IMEI 2: 861783057286816. Đây là tài sản hợp pháp của bà T. Cơ quan điều tra đã trả cho bị hại theo quy định của pháp luật là phù hợp nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- 01 xe máy hiệu ANWEN màu đỏ biển số 61L2-7032, số khung RRHWCHORH7A006620, số máy VTH152FMH7006620. Là tài sản hợp pháp của bà P, bà P cho C mượn xe của bà để đi công việc, bà không biết T sử dụng xe để thực hiện hành vi phạm tội. Cơ quan điều tra đã trả cho bà P theo quy định của pháp luật là phù hợp nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường nên Hội Đồng xét xử không xem xét.

Về nghĩa vụ chịu án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

- Căn cứ vào Điều 106; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

- Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Về mức hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn C 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/3/2023.

3. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu và tiêu hủy: 01 áo thun vải ngắn tay màu xanh.

Vật chứng nêu trên hiện đang giữ tại kho vật chứng thuộc Chi cục thi hành án dân sự huyện Hóc Môn theo Quyết định chuyển vật chứng số 118/QĐ-VKS-HS ngày 19/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn và biên bản giao, nhận vật chứng ngày 22/5/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hóc Môn.

4. Về án phí: Bị cáo Nguyễn C phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ