vanban.org

Bản án 131/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Sóc Sơn, TP. Hà Nội Tuyên án 14/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn N, Nguyễn Văn S, Vũ Minh H, Nguyễn Ngọc D, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Bá Đ, Nguyễn Bá G phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”. 2.

định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đ cho hưởng án treo. Tịch thu tiêu hủy: 01 thanh sắt màu ghi, dạng hình hộp chữ nhật có chiều dài 95cm (Tình trạng tang vật như iên ản bàn giao vật chứng ngày 11/7/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Sóc Sơn và C… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "hình sự - phạm tội gây rối trật tự công cộng (điều 318 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn N, Nguyễn Văn S, Vũ Minh H, Nguyễn Ngọc D, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Bá Đ, Nguyễn Bá G phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”. 2.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 101 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SÓC SƠN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 131 /2023/HS-ST
Ngày: 14/7/2023
Nh©n danh

NƢỚC CỘNG HÕA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÕA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Ngọc Hòa

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Vĩ

2. Ông Dƣơng Văn Xuyên

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Vân Anh – Thư ký Toà án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn tham gia phiên tòa: Ông Thiều Văn Thịnh - Kiểm sát viên.

Ngày 14/7/2023 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 116/2023/TLST-HS ngày 15/6/2023; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 120/2023/QĐXXST-HS ngày 29/6/2023, đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Văn N; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 09/6/2005 tại Hà Nội (khi phạm tội là 17 tuổi, 04 tháng, 28 ngày); Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Thôn Cộng H a, x Ph Linh, huyện Sóc Sơn, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 07/12; Chức vụ đảng, chính quyền, đoàn thể trước khi phạm tội: Không; Con ông: Nguyễn Văn Bình, sinh năm 1976 (c n sống); Con bà: Nguyễn Thị Tuất, sinh năm 1972 (c n sống); Anh, chị, em ruột: Gia đình ị cáo có hai chị em, bị cáo là con thứ hai; Vợ; Con: Chưa có;

Tiền án: Ngày 30/9/2022, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn tuyên phạt 04 năm t về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại điểm a, khoản 3, Điều 173 Bộ luật hình sự. Lần phạm tội này của bị cáo trong thời gian chờ chấp hành án nên thuộc trường hợp tái phạm.

Tiền sự: Không.

1

Bắt thi hành án ngày 27/12/2022. Hiện ị cáo đang chấp hành án tại Trại giam Suối Hai – Bộ Công an. 2. Họ và tên: Nguyễn Văn S; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 15/8/1998 tại Hà Nội; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Thôn Hoa Sơn, x Nam Sơn, huyện Sóc Sơn, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do;Trình độ học vấn: 10/12; Chức vụ đảng, chính quyền, đoàn thể trước khi phạm tội: Không; Con ông: Nguyễn Văn Quế (Không rõ năm sinh); Con bà: Nguyễn Thị Dương, sinh năm 1961 (đ chết); Anh, chị, em ruột: Bị cáo là con duy nhất trong gia đình; Vợ: Vũ Thị Khánh Hòa, sinh năm 1997; Con: Bị cáo có 01 con, sinh năm 2021; Tiền án; Tiền sự: Không; Hiện ị cáo đang ị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã Nam Sơn, huyện Sóc Sơn, Hà Nội. 3. Họ và tên: Vũ Minh H; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 22/02/2003 tại Hà Nội; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Thôn Hoa Sơn, x Nam Sơn, huyện Sóc Sơn, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam;

Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Chức vụ đảng, chính quyền, đoàn thể trước khi phạm tội: Không; Con ông: Vũ Văn Chiến, sinh năm 1981 (c n sống); Con bà: Nguyễn Thị Nguyên, sinh năm 1984 (c n sống); Anh, chị, em ruột: Gia đình ị cáo có ba anh em. Bị cáo là con thứ hai; Vợ; Con: Chưa có; Tiền án; Tiền sự: Không; Hiện ị cáo đang ị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã Nam Sơn, huyện Sóc Sơn, Hà Nội. 4. Họ và tên: Nguyễn Văn Đ; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 19/02/2001 tại Hà Nội; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Thôn Hoa Sơn, x Nam Sơn, huyện Sóc Sơn, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do;Trình độ học vấn: 12/12; Chức vụ đảng, chính quyền, đoàn thể trước khi phạm tội: Không; Con ông: Nguyễn Văn Mười, sinh năm 1974 (c n sống); Con bà: Nguyễn Thị Tâm, sinh năm 1977 (c n sống); Anh, chị, em ruột: Gia đình ị cáo có hai chị em. Bị cáo là con thứ hai; Vợ; Con: Chưa có; Tiền án; Tiền sự: Không;

2

Hiện ị cáo đang ị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã Nam Sơn, huyện Sóc Sơn, Hà Nội.

5. Họ và tên: Nguyễn Bá Đ; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 27/11/2001 tại Hà Nội; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Thôn Hoa Sơn, x Nam Sơn, huyện Sóc Sơn, Hà Nội;Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;

Tôn giáo: Không;Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Chức vụ đảng, chính quyền, đoàn thể trước khi phạm tội: Không; Con ông: Nguyễn Bá Quá, sinh năm 1971 (c n sống); Con bà: Nguyễn Thị Tường, sinh năm 1974 (c n sống); Anh, chị, em ruột: Gia đình ị cáo có ba anh chị em. Bị cáo là con thứ ba; Vợ; Con: Chưa có;

Tiền án; Tiền sự: Không;

Hiện ị cáo đang ị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã Nam Sơn, huyện Sóc Sơn, Hà Nội.

6. Họ và tên: Nguyễn Bá G; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 22/02/1996 tại Hà Nội; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Thôn Hoa Sơn, x Nam Sơn, huyện Sóc Sơn, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do;Trình độ học vấn: 12/12; Chức vụ đảng, chính quyền, đoàn thể trước khi phạm tội: Không; Con ông: Nguyễn Bá Quá, sinh năm 1971 (c n sống); Con bà: Nguyễn Thị Tường, sinh năm 1974 (c n sống); Anh, chị, em ruột: Gia đình ị cáo có ba anh chị em. Bị cáo là con thứ hai; Vợ; Con: Chưa có;

Tiền án; Tiền sự: Không;

Hiện ị cáo đang ị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã Nam Sơn, huyện Sóc Sơn, Hà Nội.

7. Họ và tên: Nguyễn Ngọc D; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 09/9/2005 tại Hà Nội (khi phạm tội là 17 tuổi, 01 tháng, 28 ngày); Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Thôn Đào Nguyên, x An Thượng, huyện Hoài Đức, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 08/12; Chức vụ đảng, chính quyền, đoàn thể trước khi phạm tội: Không; Con ông: Nguyễn Ngọc Trí (đ chết); Con bà: Lê Thị Hương, sinh năm 1977 (c n sống); Anh, chị, em ruột: Gia đình ị cáo có bốn chị em. Bị cáo là con thứ tư; Vợ; Con: Chưa có;

Tiền án; Tiền sự: Không;

3

Hiện ị cáo đang ị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã An Thượng, huyện Hoài Đức, Hà Nội. Ngƣời đại diện theo pháp luật của bị cáo D: Bà Lê Thị Hương, sinh năm 1977; địa chỉ: Thôn Đào Nguyên, x An Thượng, huyện Hoài Đức, Hà Nội. Ngƣời bào chữa của bị cáo Nguyễn Ngọc D: Bà Dương Bích Hải – trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố Hà Nội. Ngƣời bào chữa của bị cáo N: Bà Nguyễn Thị Kim Dung và à Dương Bích Hải – trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước TP. Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn iến tại phiên t a, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 20 giờ 00 ngày 07/11/2022, Nguyễn Bá Đường, sinh năm 2001; Nguyễn Văn Đạt, sinh năm 2001; Nguyễn Bá Giang, sinh năm 1996; Nguyễn Thanh Tình, sinh năm 2001; Nguyễn Đông Bắc, sinh năm 2003 và Vũ Thành Nhật, sinh năm 2006, c ng trú tại thôn Hoa Sơn, x Nam Sơn, huyện Sóc Sơn, Hà Nội rủ nhau đi chơi tại x Trung Gi , huyện Sóc Sơn. Đến nơi, Đạt một mình đi đến quán Xuân Thắng để giải quyết việc riêng, nhóm 5 người gồm Đường, Giang, Tình, Bắc, Nhật đi uống nước. Khoảng 21 giờ 25 phút, Giang điều khiển xe máy chở Bắc, Tình điều khiển xe máy một mình, Nhật điều khiển xe máy chở Đường c ng quay lại Phố Nỷ, Trung Gi , Sóc Sơn để đón Đạt về. Khi đi đến khu vực đường Quốc lộ 3 giao nhau với đường đi thôn An Lạc, x Trung Gi , huyện Sóc Sơn thì gặp Nguyễn Văn Nam, sinh ngày 09/6/2005, trú tại thôn Cộng H a, x Ph Linh, huyện Sóc Sơn điều khiển xe máy chở Nguyễn Ngọc Dương, sinh ngày 09/9/2005, trú tại thôn Đào Nguyên, x An Thượng, huyện Hoài Đức, Hà Nội. Nam nghĩ nhóm của Đường chửi, nhìn đểu mình nên đ điều khiển xe đuổi theo và d ng chân đạp về phía xe của Nhật chở Đường nhưng không trúng. Nhật dừng xe lại ên lề đường trước của quán án nước dừa Tâm Tít và cửa hàng quần áo của chị Trương Thị Tâm, sinh năm 1984, trú tại Phố Nỷ, Trung Gi , Sóc Sơn. Nam điều khiển xe vượt lên trước rồi quay xe lại chặn đầu xe của Nhật. Nam và Dương nhảy xuống xe, Nam chạy lại phía iển quảng cáo nhặt 01 gậy tre rồi c ng Dương chạy lại phía Nhật và Đường. Nhật điều khiển xe ỏ chạy thì Dương chạy đến d ng tay chân đánh, đấm Đường, Nam d ng gậy vụt 01 cái trúng lưng của Đường, khi Đường chạy ra đến giữa đường Quốc lộ 3 thì Nam cầm gậy tre ném về phía Đường nhưng không trúng rồi c ng Dương quay lại xe để ỏ đi. Lúc này, Đạt chạy ộ từ quán Xuân Thắng đến trước đầu xe của Nam hỏi “mày đánh ai đấy”, Giang từ trên xe máy xuống rồi chạy từ phía sau lên d ng tay tát 01 cái trúng vào má ên trái của

4

Nam. Bị đánh, Nam và Dương chạy vào quán nước dừa, Đường, Đạt, Giang đi lại trước cửa quán, Đường cầm một quả dừa tươi lên ném về phía Nam, Dương nhưng được được chị Tâm đ can ngăn, đuổi ra ngoài. Đường tiếp tục nhặt con dao chặt dừa của chị Tâm lên thì Nam, Dương chạy theo cửa ngách sang cửa hàng quần áo rồi Dương điện thoại gọi qua Messenger cho Vũ Minh H ng, sinh năm 2003, trú tại Hoa Sơn, Nam Sơn, Sóc Sơn là ạn è x hội ảo cầm kiếm ra quán để hỗ trợ. Đường đứng ên ngoài chửi ới định xông vào để đánh Nam, Dương thì ị chị Tâm, anh Phạm Tiến Duy, sinh năm 1988; anh Lý Xuân Thắng, sinh năm 1997 và một số người dân khu vực phố Nỷ, Trung Gi đến xem, can ngăn không cho đánh nhau.

Khoảng 3 phút sau, Nguyễn Văn Sơn, sinh năm 1998, trú tại thôn Hoa Sơn, x Nam Sơn, huyện Sóc Sơn điều khiển xe máy chở H ng đến. H ng, Sơn xuống xe hỏi Nam “thằng nào đánh chúng mày” thì Nam chỉ vào Đạt. Ngay lập tức, H ng và Sơn chửi ới rồi lao vào d ng tay đánh Đạt. Người dân ở đó tiếp tục can ngăn nên sự việc tạm thời dừng lại. Nam lấy xe máy chở Dương đi về hướng phố Nỷ, được khoảng 20m thì Nam thấy Đạt đang đi ộ dưới l ng đường nên điều khiển xe áp sát rồi d ng tay đấm Đạt, ị đánh Đạt đuổi theo kéo xe máy của Nam lại. Lúc này, Dương, Nam, H ng lao vào d ng tay chân đánh Đạt, Đạt cũng đánh lại. Nam và H ng chạy vào rìa đường nhặt 01 gậy tre đánh liên tiếp nhiều phát vào đầu của Đạt. Đạt ỏ chạy quay lại hướng quán nước dừa thì Nam, H ng cầm gậy tre và c ng Dương đuổi theo Đạt. Thấy Đạt ị đuổi đánh, Đường nhặt viên gạch ở vỉa hè ném về phía Nam, H ng, Dương nhưng không trúng. Do không đuổi kịp Đạt nên Nam, H ng, Dương quay lại lấy xe đi về ng a Nỷ. Đạt ị chảy máu đầu nên được Tình chở đi tìm ph ng khám để sơ cứu. Khi đi qua nga a Nỷ thì nhóm của Nam nhìn thấy Tình chở Đạt nên đ điều khiển xe máy đuổi theo đến thôn Phong Mỹ, x Trung Gi thì đuổi kịp. H ng cầm gậy tre vụt vào người Đạt, Sơn d ng tay chân đấm đá Đạt và Tình. Sau đó, nhóm của Nam lên xe máy ỏ về, Tình tiếp tục chở Đạt đến Ph ng khám đa khoa Hồng Kỳ để sơ cứu.

Đối với Nguyễn Thanh Tình, Nguyễn Đông Bắc, Vũ Thành Nhật không tham gia đuổi đánh, chửi ới nhau nên không có căn cứ để xử lý.

Quá trình xảy ra xô xát, đánh nhau, Nguyễn Văn Đạt, Nguyễn Bá Đường, Nguyễn Văn Nam, Nguyễn Ngọc Dương đều ị thương tích. Tuy nhiên, do thương tích nhẹ, các ị cáo đ từ chối giám định và đơn đơn đề nghị không xử lý về hành vi gây thương tích nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.

Do không ị thiệt hại về tài sản nên chị Trương Thị Tâm không yêu cầu các ị can phải ồi thường.

Đối với vật chứng là 01 gậy sắt màu ghi, dạng hình hộp chữ nhật cần tiếp tục tạm giữ để phục vụ việc giải quyết vụ án.

5

Sau vụ việc, các ị cáo Nguyễn Văn Sơn, Vũ Minh H ng, Nguyễn Văn Nam đ ồi thường số tiền 3.000.000 đồng cho ị cáo Nguyễn Văn Đạt. Quá trình điều tra, các ị cáo thành khẩn khai áo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Tại ản cáo trạng số 107/CT-VKS ngày 31/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn truy tố các bị cáo Nguyễn Văn Nam, Nguyễn Văn Sơn, Vũ Minh Hùng, Nguyễn Ngọc Dương, Nguyễn Văn Đạt, Nguyễn Bá Đường, Nguyễn Bá Giang đ phạm tội Gây rối trật tự công cộng, quy định tại điểm b, khoản 2, Điều 318 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên toà, các ị cáo khai nhận toàn ộ hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị: Xử phạt: 1. Bị cáo Nguyễn Văn Nam 24 đến 30 tháng tù. Bị cáo Nam đang chấp hành 04 năm t về tội Trộm cắp tài sản tại bản án hình sự sơ thẩm số 186/2022/HS-ST ngày 30/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 06 năm t đến 06 năm, 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/12/2022. 2. Xử phạt: Nguyễn Văn Sơn từ 24 đến 30 tháng t nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 đến tháng kể từ ngày tuyên án. 3. Xử phạt: Vũ Minh H ng từ 24 đến 30 tháng t nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 đến 60 tháng kể từ ngày tuyên án. 4. Xử phạt: Nguyễn Văn Đạt từ 24 đến 30 tháng t nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 đến 60 tháng kể từ ngày tuyên án. 5. Xử phạt: Nguyễn Bá Đường từ 24 đến 30 tháng t nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 đến 60 tháng kể từ ngày tuyên án. 6. Xử phạt: Nguyễn Bá Giang từ 24 đến 30 tháng t nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 đến 60 tháng kể từ ngày tuyên án. 7. Xử phạt: Nguyễn Ngọc Dương từ 18 đến 21 tháng t nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 đến 42 tháng kể từ ngày tuyên án. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 thanh sắt màu ghi, dạng hình hộp chữ nhật có chiều dài 95cm. Giám hộ bị cáo Dương: Đề nghị hội đồng xét xử xem xét để tôi có thời gian dạy bảo và chăm sóc cháu, cho cháu được hưởng áo treo. Luật sư Dương Bích Hải: Đề nghị hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo Dương. Cho ị cáo Dương được áp dụng điểm b, khoản 2, Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 91; Điều 101 và Điều 65 Bộ luật hình sự. Cho bị cáo Dương mức án thấp nhất và được hưởng án treo.

6

Luật sư Nguyễn Thị Kim Dung: Đề nghị hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo Nam. Cho bị cáo Nam được áp dụng điểm b, khoản 2, Điều 318; điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; điểm h, khoản 1, Điều 52; Điều 38; Điều 91; Điều 101; Điều 55 và Điều 56 Bộ luật hình sự. Cho bị cáo Dương mức án thấp nhất như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÕA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đ được tranh tụng tại phiên t a, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Công an huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đ thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Nội dung bản cáo trạng và các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ căn cứ kết luận: Khoảng 21 giờ 25 ngày 07/11/2022, Nguyễn Văn Nam, Nguyễn Ngọc Dương, Vũ Minh H ng, Nguyễn Văn Sơn, Nguyễn Bá Đường, Nguyễn Văn Đạt, Nguyễn Bá Giang có hành vi d ng tay, chân và hung khí nguy hiểm (gậy tre, dừa, dao, xe máy) chửi ới, đuổi đánh nhau gây náo loạn khu vực đường Quốc lộ 3, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự trên địa àn Phố Nỷ, x Trung Gi , huyện Sóc Sơn. Ảnh hưởng trực tiếp đến việc sinh sống, kinh doanh, uôn án của người dân trong khu vực.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn Nam đ trên 18 tuổi, đ thành niên và xác định vẫn giữ quan điểm từ chối đại diện hợp pháp là ông Nguyễn Văn Bình và à Nguyễn Thị Tuất, đồng thời giữ nguyên đề nghị trợ giúp pháp lý. Đây là quyền của bị cáo phù hợp với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận và tiếp tục xét xử.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Ngọc Dương 17 tuổi, 10 tháng, 05 ngày chưa thành niên nên có mặt đại diện hợp pháp là bà Lê Thị Hương, đồng thời giữ nguyên đề nghị trợ giúp pháp lý nên Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử.

Hành vi của các bị cáo đủ dấu hiệu cấu thành tội Gây rối trật tự công cộng, quy định tại điểm b, khoản 2, Điều 318 của Bộ luật Hình sự. Nội dung điều luật quy định:

Điều 318. Tội Gây rối trật tự công cộng

1. Người nào gây rối trật tự công cộng gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ

7

5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm. 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm: b) Dùng vũ khí, hung khí hoặc có hành vi phá phách.” Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn truy tố các bị cáo đ phạm vào tội Gây rối trật tự công cộng, quy định tại điểm b, khoản 2, Điều 318 Bộ luật Hình sự là có căn cứ. [3] Tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Các ị cáo có hành vi d ng tay, chân và hung khí nguy hiểm (gậy tre, quả dừa, dao, xe máy) vụt nhau, ném nhau, chửi ới, đuổi đánh nhau gây náo loạn khu vực đường Quốc lộ 3, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự trên địa àn Phố Nỷ, x Trung Gi , huyện Sóc Sơn. Ảnh hưởng trực tiếp đến việc sinh sống, kinh doanh, uôn án của người dân trong khu vực. Do đó, việc đưa các bị cáo ra truy tố, xét xử trước pháp luật về điểm b, khoản 2, Điều 318 Bộ luật hình sự là cần thiết, nhằm răn đe, giáo dục các bị cáo đồng thời góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm. [4] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. [4.1] Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngày 30/9/2022, bị cáo Nam bị Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn tuyên phạt 04 năm t về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại điểm a, khoản 3, Điều 173 Bộ luật hình sự. Ngày 27/12/2022 bị cáo Nam bị bắt thi hành án. Lần phạm tội này của bị cáo trong thời gian chờ chấp hành án. Hành vi phạm tội lần này của ị cáo Nam thuộc trường hợp tái phạm, quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử sẽ tổng hợp uộc ị cáo Nam phải chấp hành hình phạt của hai ản án theo quy định tại Điều 55, 56 Bộ luật Hình sự. Các ị cáo Sơn, H ng, Dương, Đạt, Đường, Giang không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. [4.2] Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các ị cáo Nam, Sơn, H ng, Dương, Đạt, Đường, Giang tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai áo, ăn năn hối cải. Do đó cần cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Nam khi phạm tội là 17 tuổi, 04 tháng, 28 ngày là chưa đủ 18 tuổi, nên cũng áp dụng các Điều 90, 91 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ cho bị cáo Nam.

8

Các ị cáo Sơn, H ng, Nam đ ồi thường số tiền 3.000.000 đồng cho bị cáo Nguyễn Văn Đạt nên cũng áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo Dương khi phạm tội là 17 tuổi, 01 tháng, 28 ngày chưa đủ 18 tuổi, nên cũng xem xét áp dụng các Điều 90, 91 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ cho bị cáo Dương, gia đình bị cáo Dương cũng xin nhận trách nhiệm quản lý giáo dục ị cáo. Bị cáo có em trai ông nội là Liệt sỹ Nguyễn Văn Thục nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo Đường và ị cáo Giang là anh em ruột, có ông ngoại là Nguyễn Văn Thảo được tặng thưởng huân chương kháng chiến Hạng Hai nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Đạt, Đường, Giang, H ng, Sơn, Dương phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt, được chính quyền địa phương xác nhận tham gia các hoạt động tại địa phương nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Các ị cáo Đạt, Đường, Nam, Dương đều bị thương tích. Tuy nhiên, do thương tích nhẹ, các bị cáo đ từ chối giám định và đơn đơn đề nghị không xử lý về hành vi gây thương tích nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.

[5] Xem xét vai tr của các ị cáo: Trong vụ án ị cáo Nam giữ vai tr đầu vụ, các ị cáo Sơn, H ng, Dương tham gia với vai tr đồng phạm giúp sức tích cực cho ị cáo Nam và trực tiếp gây rối trật tự công cộng. Các ị cáo Đạt, Đường, Giang đ tham gia đánh các ị cáo Nam, Dương trực tiếp gây rối trật tự công cộng cùng nhau và có sử dụng gậy nên đồng phạm.

Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng hình phạt tù, cách ly các bị cáo Nam ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Các bị cáo Sơn, H ng, Dương, Đạt, Đường, Giang có nhân thân tốt, có nơi cư trú ổn định, rõ ràng và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, do đó xét thấy không cần thiết phải cách ly các bị cáo Sơn, H ng, Dương, Đạt, Đường, Giang ra khỏi đời sống xã hội mà cho các bị cáo Sơn, H ng, Dương, Đạt, Đường, Giang được cải tạo tại địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo các bị cáo Sơn, H ng, Dương, Đạt, Đường, Giang trở thành người công dân có ích cho xã hội.

[6]. Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Các bị cáo không có yêu cầu gì về phần bồi thường dân sự nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[7]. Về vật chứng: 01 thanh sắt màu ghi, dạng hình hộp chữ nhật có chiều dài 95cm. Xét đây là phương tiện dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.

[8]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

9

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn N, Nguyễn Văn S, Vũ Minh H, Nguyễn Ngọc D, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Bá Đ, Nguyễn Bá G phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”. 2. Căn cứ điểm b, khoản 2, Điều 318; điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; điểm h, khoản 1, Điều 52; Điều 38; Điều 91; Điều 101; Điều 55 và Điều 56 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Nguyễn Văn N 02 năm tù. Buộc bị cáo N phải chấp hành 04 năm t về tội Trộm cắp tài sản tại bản án hình sự sơ thẩm số 186/2022/HS-ST ngày 30/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 06 năm t . Thời hạn tù tính từ ngày 27/12/2022. 3. Căn cứ điểm b, khoản 2, Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Nguyễn Văn S 24 tháng t nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 tháng kể từ ngày tuyên án. Xử phạt: Vũ Minh H 24 tháng t nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 tháng kể từ ngày tuyên án. Xử phạt: Nguyễn Văn Đ 24 tháng t nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 tháng kể từ ngày tuyên án. Xử phạt: Nguyễn Bá Đường 24 tháng t nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 tháng kể từ ngày tuyên án. Xử phạt: Nguyễn Bá G 24 tháng t nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 tháng kể từ ngày tuyên án. 4. Căn cứ điểm b, khoản 2, Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 91; Điều 101 và Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Nguyễn Ngọc D 18 tháng t nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 tháng kể từ ngày tuyên án. Giao các bị cáo Nguyễn Văn S, Vũ Minh H, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Bá Đ và Nguyễn Bá G cho UBND x Nam Sơn, Sóc Sơn, Hà Nội giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Giao bị cáo Nguyễn Ngọc D cho UBND xã An Thượng, Hoài Đức, Hà Nội giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp các bị cáo Nguyễn Văn S, Vũ Minh H, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Bá Đ, Nguyễn Bá G và Nguyễn Ngọc D thay đổi nơi cư trú được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết

10

định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đ cho hưởng án treo.

6. Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy an thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tịch thu tiêu hủy: 01 thanh sắt màu ghi, dạng hình hộp chữ nhật có chiều dài 95cm (Tình trạng tang vật như iên ản bàn giao vật chứng ngày 11/7/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Sóc Sơn và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn).

7. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy an Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí T a án: Mỗi ị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

8. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015: Các ị cáo, đại diện hợp pháp của ị cáo D, luật sư có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ