- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đăng P và đồng phạm - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một…"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Đăng P và Hồ Văn T;giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 33/2023/HS-ST ngày 17 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 134 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:131/2023/HS-PT Ngày 14-8-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Ngô Hà Nam
Các Thẩm phán: Ông Trần Hữu Vinh
Bà Đỗ Thị Thúy Năng
- Thư ký phiên tòa:Bà Nguyễn Thị Na, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bạch Tuyết - Kiểm sát viên
Ngày14 tháng 8 năm2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 112/2023/TLPT-HS ngày 19 tháng 6 năm 2023 đối với các bị cáo Nguyễn Đăng P và Hồ Văn T do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 33/2023/HS-ST ngày 17 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.
- Các bị cáo có kháng cáo:
1. Nguyễn Đăng P; sinh ngày 27 tháng 7 năm 1981, tại Đà Nẵng; nơi cư trú: 08 đường C, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: Lao động phổ thông; trình độ văn hóa (học vấn): 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Huỳnh Thị L; tiền án: Ngày 12-8-1998 (Bản án số 106/HS-ST), bị Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xử phạt 01 năm tù về tội “Cướp tài sản công dân”; ngày 30-9-1999 (Bản án số 132/HS-ST), bị Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản công dân”; ngày 29-10-2003(Bản án số 97/HS-ST), bị Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; ngày 07-11-2005(Bản án số 69/2011/HS-ST), bị Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng xử phạt 04 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”; ngày 14-01-2011(Bản án số 02/2011/HS-ST), bị Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; ngày 13-4-2011 (Bản án số 07/2011/HS-ST), bị Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An xử phạt 08 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; tiền sự: Không; nhân thân: Không; bị bắt tạm giam ngày 27-5-2022. Có mặt.
2. Hồ Văn T; sinh ngày 10 tháng 9 năm 1995, tại Đà Nẵng; nơi cư trú: K43/71 đường K, phường Q, quận T, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: Lao động phổ thông; trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Văn T và bà Cù Thị H; có vợ và 01 con; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 12-4-2010, bị Chủ tịch UBND quận Sơn Trà quyết định đưa vào trường giáo dưỡng 24 tháng về hành vi Cố ý gây thương tích và Trộm cắp tài sản; ngày 15-8-2014(Bản án số 58/2014/HS-ST), bị Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng xử phạt 15 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”; ngày 25-11-2014(Bản án số 249/2014/HS-PT), bị Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xử phạt 30 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”; bị bắt tạm giam ngày 27-5-2023. Có mặt.
- Ngoài ra còn có bị cáo Nguyễn Vượt T không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
- Khoảng 22 giờ ngày 09-3-2022, do Trần Duy H có mâu thuẫn với Nguyễn Đăng P nên Nguyễn Đình D chở Hđến gặp P đang nhậu tại quán M, địa chỉ 20 đường H, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵngđể nói chuyện hòa giải. Tuy nhiên, khi vừa thấy D chở H đến trước quán thì P xông vào dùng tay đấm vào mặt làm H ngã xuống. Thấy vậy, D vào can ngăn để H bỏ chạy thì P dùng tay đánh vào người D; Duy và P giằng co, dùng tay đánh lẫn nhau. Lúc này, Hồ Văn T cầm chiếc ghế đang ngồi, cùng một số đối tượng (không rõ lai lịch) trong quán xông ra đánh Duy, T cầm ghế đánh vào đầu D thì anh Lê Thanh H đưa tay lên đỡ nên chỉ 01 phần ghế trúng vào đầu D. Sau đó, T tiếp tục dùng tay đấm 02 cái vào mặt D làm D ngã xuống đường. Lúc này, anh Võ Quốc T xông vào nằm trên người để đỡ cho D nên nhóm của P dừng lại. D được anh T đưa đến bệnh viện cứu chữa.
- Mấy ngày sau, P cùng T và Nguyễn Vượt T uống cà phê tại 01 quán trên đường Q thì T biết được nội dung vụ việc và biết P đang tìm người đứng ra nhận có tham gia đánh D nên T nói mình chưa có tiền án, tiền sự, chưa đủ 18 tuổi, nghĩ chỉ bị phạt hành chính nên tự đứng ra nhận đánh D, đồng thời thống nhất lời khai với P và T trước khi đến làm việc với Cơ quan Công an.
Vật chứng thu giữ: 01 chiếc ghế (khung bằng kim loại, mặt ghế và tựa lưng bằng gỗ, phần tựa lưng bị bể); 01 đĩa VCD lưu 02 đoạn video ghi nội dung vụ việc.
Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 76/TgT ngày 14-4-2022 của Trung tâm pháp y – Sở Y tế thành phố Đà Nẵng, kết luận đối với Nguyễn Đình Duy: Chấn động não điều trị ổn định, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 02%; chấn thương mắt phải đã điều trị, hiện tại thị lực mắt phải 5/10,tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 08%; vết thương vùng đỉnh trái đã lành tạo sẹo, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 01%; vết thương vùng nách - ngực bên phải đã lành tạo sẹo (vết thương này không được ghi nhận trong hồ sơ y tế nhưng nạn nhân khai xảy ra trong vụ việc trên), tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là01%.
Với nội dung nói trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 33/2023/HS-ST ngày 17 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng đã quyết định:
- Căn cứ điểm d, đ (điểm a, i khoản 1) khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự,xử phạt bị cáo Nguyễn Đăng P 03 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ điểm đ (điểm a, i khoản 1) khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38của Bộ luật Hình sự,xử phạt bị cáo Hồ Văn T 02 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”.
- Ngoài ra, án sơ thẩm còn kết tội “Khai báo gian dối” và quyết định hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Vượt Tiến; tuyên về xử lý vật chứng; án phí hình sự sơ thẩm và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
- Ngày 23-5-2023, cáo bị cáo Nguyễn Đăng P và Hồ Văn T có đơn kháng cáo với cùng nội dungxin được giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, Kiểm sát viên phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát và đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của cáo bị cáo Nguyễn Đăng P và Hồ Văn T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo thừa nhận Tòa án cấp sơ thẩm kết tội “Cố ý gây thương tích” đối với các bị cáo là đúng tội, không oan. Các bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm hình phạt cho các bị cáovì hoàn cảnh gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Khoảng 22 giờ 20 phút ngày 09-3-2022, tại quán M, địa chỉ 20 đường H, quận T, thành phố Đà Nẵng, Nguyễn Đăng P dùng tay và Hồ Văn T dùng ghế đánh anh Nguyễn Đình D gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 11%. Sau đó, Nguyễn Vượt T nói với P và T để Tiến đứng ra nhận tội thay cho P.
Mặt khác, ngày 13-4-2011, bị cáo P đã bị Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Long An kết án về tội “Trộm cắp tài sản”với tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm nguy hiểm” chưa được xóa án tích, nên thực hiện hành vi phạm tội do cố ý lần này cũng là tình tiết “Tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại khoản 2 Điều 53 của Bộ luật Hình sự.
Với hành vi và tình tiết nói trên, Tòa án cấp sơ thẩm kết tội bị cáoNguyễn Đăng P phạm tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại các điểm d, đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự với các tình tiết “Dùng hung khí nguy hiểm”, “Có tính chất côn đồ” và “Tái phạm nguy hiểm”quy định tại các a, i khoản 1, điểm d, đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình; kết tội bị cáo Hồ Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự với các tình tiết “Dùng hung khí nguy hiểm” và “Có tính chất côn đồ” quy định tại các a, i khoản 1, điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự; kết tội bị cáo Nguyễn Vượt T phạm tội “Khai báo gian dối” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 382 của Bộ luật Hình là đúng pháp luật.
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt tù củacác bị cáo Nguyễn Đăng P và Hồ Văn T, thì thấy: Trong vụ án này, cả 02 bị cáo đều có hành vi côn đồ, trực tiếp xâm hại sức khỏe người khác chỉ vì nguyên cớ nhỏ nhất;02 bị cáo đều có nhân thân xấu. Mức án 03 năm tù đối với bị cáo P và 02 năm 06 tháng tù đối với bị cáo T mà Tòa án sơ thẩm đã tuyên phạt là có căn cứ và đúng pháp luật; tại giai đoạn xét xử phúc thẩm 02 bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ nào mới, nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo.
Các bị cáo Nguyễn Đăng P và Hồ Văn Tphải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự,
Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Đăng P và Hồ Văn T;giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 33/2023/HS-ST ngày 17 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.
2. Căn cứ điểm d, điểm đ (điểm a, i khoản 1) khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự,
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đăng P 03 (ba) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27-5-2022.
3. Căn cứ điểm đ (điểm a, i khoản 1) khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38của Bộ luật Hình sự,
Xử phạt bị cáo Hồ Văn T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời gian chấp hình phạt tù tính từ ngày 27-5-2022.
4. Về án phí:Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Các bị cáo Nguyễn Đăng P và Hồ Văn T mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự phúc thẩm.
5. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 33/2023/HS-ST ngày 17 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSNDTP. Đà Nẵng; - Phòng CSTHAHS&HTTP Công an TP. Đà Nẵng; - Cơ quan CSĐT Công an quận Sơn Trà; - VKSND quận Sơn Trà;TANDquận Sơn Trà; - Trại tạm giam Công an TP. Đà Nẵng; - Người kháng cáo; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM CÁC THẨM PHÁN Trần Hữu Vinh Đỗ Thị Thúy Năng | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Ngô Hà Nam THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Hà Nam |