vanban.org

Bản án 131/2023/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Bình Thuận Tuyên án 14/12/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 14/12/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phan Hữu T. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 111/2023/HS-ST ngày 25 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong.

Tuyên bố: Bị cáo Phan Hữu T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Phan Hữu T 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành hình phạt. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phan Hữu T. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 111/2023/HS-ST ngày 25 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự và xử phạt; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 131/2023/HS-PT
Ngày: 14/12/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Đức Hùng.

Các Thẩm phán: Bà Vũ Thị Thanh Hòa;

Bà Phạm Phong Lan;

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Tuấn - Thư ký Toà án của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Ông Đỗ Ngọc Bích - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bình Thuận, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 132/2023/TLPT-HS ngày 10 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo Phan Hữu T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 111/2023/HS-ST ngày 25 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong.

- Bị cáo có kháng cáo:

Phan Hữu T (tên gọi khác: Q), sinh năm 1997 tại tỉnh Bình Thuận; Nơi cư trú: thôn V, xã V, huyện T, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Hữu H và bà Phạm Thị C; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 23/5/2023 bị Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 12 tháng, tại quyết định số 80/QĐ-TA. Hiện đang áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Bình Thuận. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Trong vụ án còn có 03 bị cáo khác là Lê Văn Đ, Lê Minh H1, Võ Thị T1, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng không kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị, không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Văn Đ, Phan Hữu T và Lê Minh H1 là bạn bè quen biết ngoài xã hội. Trước ngày 12/02/2023, Đ, H1 và T đã từng trộm cắp dầu bán cho Võ Thị T1. T1 nói với Đ, H1 và T khi nào trộm cắp dầu và bình ắc quy thì mang đến bán cho T1 và T1 sẽ mua.

Khoảng sáng ngày 12/02/2023, Lê Minh H1 ngồi chơi cùng với Lê Văn Đ và Phan Hữu T. Trong lúc đang ngồi chơi thì H1 điều khiển xe mô tô biển số 77M8-9844 đi mua card điện thoại. Trên đường đi mua card điện thoại thì H1 nhìn thấy 01 chiếc xe ben biển số 85C-029.47 của Phạm Hữu C1 đang đậu tại Garage xe thuộc xóm C, thôn V, xã V, huyện T. H1 nảy sinh ý định trộm cắp dầu của xe ben biển số 85C-029.47, nên H1 quay về lại nơi Đ và T đang ngồi. H1 rủ Đ và T đi trộm cắp dầu thì Đ và T đồng ý. Đắc lấy trong bụi cây 01 kiềm cộng lực và 01 cây cờ lê để trộm cắp tài sản. Khoảng 01 giờ sáng ngày 12/02/2023, H1 chở T đến nhà Võ Thị T1 để lấy 05 can đựng dầu, 01 ống hút dầu sau đó tập trung tại bên hông nhà nghỉ Anh Đ thuộc xã V. T đứng cảnh giới còn H1 và Đ đi bộ qua Quốc lộ A, leo qua dãi phân cách đến vị trí xe ben đang dừng. Khi đến vị trí xe ben 85C-029.47 thì Đ dùng tay mở nắp bình dầu của xe. Đ đưa ống hút vào bình dầu hút đầy 03 can dầu loại 30 lít, H1 và Đắc khiêng 03 can dầu đi đến vị trí dãi phân cách nơi T đứng cảnh giới, sau đó T dùng xe mô tô chở 03 can dầu vừa trộm cắp được về nhà của T1 để cất giấu. H1 và Đ quay lại vị trí xe ben 85C-029.47 dùng kiềm cộng lực cắt dây điện trộm cắp 02 bình ắc quy hiệu Pinaco loại 12V-120Ah mang đến bên hông nhà nghĩ Anh Đ1. H1 đi bộ về nhà của T1 lấy 01 xe mô tô do T chở dầu về trước đó chạy ra để chở 02 bình ắc quy về cất giấu sau tấm ván gỗ tại nhà của T1, Đ đi bộ cầm 02 can dầu rỗng cùng đi về nhà của T1. Lúc này khoảng 4 giờ sáng ngày 12/02/2023, T1 cùng Đ, H1 và Tân ngồi tại vị trí trước nhà của T1ương có hỏi có lấy được gì không, thì Đ nói với T1 trộm cắp được 03 can dầu và 02 bình ắc quy.

Đến khoảng 4 giờ ngày 12/02/2023, Phạm Hữu C1 thức dậy để kiểm tra xe thì phát hiện xe bị hút trộm dầu và 02 bình ắc quy. Cảnh đến Công an xã V để trình báo. Sau đó Công an xã V đến nhà của T1 kiểm tra thì H1 bỏ chạy vào phòng ngủ của T1. Lực lượng Công an xã V tiến hành thu giữ 05 can dầu trong đó có 03 can chứa dầu và đưa Phan Văn T2 về trụ sở làm việc.

Đến sáng ngày 12/02/2023, T1 hỏi H1: “tối có làm bình không?” tức có lấy bình ắc quy không thì H1 chỉ nơi cất giấu 02 bình ắc quy cho T1, sau đó T1 mang 02 bình ắc quy đem vào nhà cất giấu. Khoảng 3 ngày sau H1 đến hỏi T1 02 bình ắc quy ở đâu để mang giao nộp thì T1 nói 02 bình ắc quy đã bị ai lấy mất, nên không thu hồi được. Quá trình điều tra và đối chất T1 khai nhận không nhìn thấy và không lấy 02 bình ắc quy cất giấu là không có căn cứ, nhằm che giấu hành vi phạm tội.

Phạm Hữu C1 khai nhận bị mất 100 lít dầu D.O, tuy nhiên quá trình điều tra thu giữ 60 lít dầu D.O. Không có căn cứ để xác định các bị can trộm cắp 100 lít dầu, nên không có căn cứ để truy tố các bị can trộm cắp 100 lít dầu như lời khai của bị hại.

Tại biên bản và bản kết luận định giá tài sản số 23/KL-HĐĐG ngày 06.3.2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - UBND huyện T kết luận:

+100 lít dầu DO có giá là 20.881 đồng/lít x 100 lít = 2.088.100 đồng.

+ 02 bình ắc quy PINACO N120 12 V-120Ah 2.850.000 đồng/cái x 90% x 2 = 5.130.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản định giá: 7.218.100 đồng.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 111/2023/HS-ST ngày 25 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong đã quyết định:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; Điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17, khoản 1 Điều 50, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Phan Hữu T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Phan Hữu T 01 (Một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên xử bị cáo Lê Văn Đ 02 năm 06 tháng tù tổng hợp hình phạt 02 năm 06 tháng tù của Bản án số 53/2023/HS-PT ngày 24/5/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận, buộc bị cáo Lê Văn Đ phải chấp hành hình phạt chung là 05 năm tù; bị cáo Lê Minh H1 01 năm 03 tháng tù; bị cáo Võ Thị T1 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng; quyết định về trách nhiệm dân sự; xử lý vật chứng; án phí; biện pháp tư pháp, lãi suất do chậm thi hành án theo luật định.

Ngày 02/10/2023, bị cáo Phan Hữu T kháng cáo xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Ý kiến của bị cáo: Bị cáo Phan Hữu T giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin được hưởng án treo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Bình Thuận phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phan Hữu T về việc xin hưởng án treo; Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 111/2023/HS-ST ngày 25 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai nhận của bị cáo Phan Hữu T phù hợp với các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định: Do trước đó Võ Thị T1 đã cùng thống nhất với Lê Văn Đ, Lê Minh H1 và Phan Hữu T khi nào trộm được dầu, bình ắc quy thì mang đến bán cho T1 nên vào khoảng 01 giờ, ngày 12/02/2023 tại khu vực Garage xe thuộc xóm C, thôn V, xã V, huyện T, tỉnh Bình Thuận. Lê Văn Đ, Lê Minh H1 và Phan Hữu T đã cùng nhau lén lút trộm cắp 60 lít dầu D và 02 bình ắc quy trên xe ô tô biển kiểm soát 85C-029.47 của Phạm Hữu C1 có giá trị là 6.382.860 đồng. Hành vi của Phan Hữu T và đồng phạm đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong xét xử bị cáo Phan Hữu T phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ.

Xét kháng cáo của bị cáo xin hưởng án treo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo Phan Hữu T thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên Tòa án sơ thẩm áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và xử phạt bị cáo mức án 01 năm tù là phù hợp.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo trình bày ông Phan Hữu H là cha của bị cáo đã cung cấp tài liệu về việc ông H được tặng thưởng các Giấy khen vì đã có thành tích trong công tác Hội chữ thập đỏ và được nhận kỷ niệm chương; Bị cáo xin hưởng án treo để được ở nhà phụ giúp gia đình. Xét các tài liệu, tình tiết bị cáo cung cấp không là tình tiết giảm nhẹ theo Điều 51 Bộ luật hình sự. Mặt khác, xét tính chất, mức độ và hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo, bị cáo có nhân thân xấu nên không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị cáo về việc xin hưởng án treo. Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phan Hữu T. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 111/2023/HS-ST ngày 25 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong.

1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):

Tuyên bố: Bị cáo Phan Hữu T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Phan Hữu T 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành hình phạt.

2. Về án phí phúc thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Bị cáo Phan Hữu T phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (14/12/2023).

Cỡ chữ