vanban.org

Bản án 131/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân"
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THOẠI SƠN
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 131/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 20-7-2023
V/v “Tranh chấp hôn nhân và
gia đình: Ly hôn, tranh chấp về
nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Linh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Hoàng và bà Nguyễn Thị Ngọc Hà.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Thắng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn tham gia phiên tòa: Bà Bùi Phương Anh – Kiểm sát viên

Ngày 20 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 253/2023/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 5 năm 2023 về việc: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 133/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Ngọc Đ, sinh năm 1984

Địa chỉ: Tổ 1, xã TT, huyện TH, tỉnh Kiên Giang

- Bị đơn: Anh Bùi Thiện C, sinh năm 1979

Địa chỉ: Ấp TB, xã TG, huyện ThS, tỉnh An Giang

Chị Nguyễn Thị Ngọc Đ và anh Bùi Thiện C có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị Ngọc Đ; các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Chị và anh C tự tìm hiểu và chung sống với nhau năm 2009, có tổ chức đám cưới nhưng không đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống do tính tình không hợp, không có tiếng nói chung nên vợ chồng thường xuyên bất hòa, mâu thuẫn càng lúc càng trầm trọng mà không có biện pháp hàn gắn. Đến năm 2014 vợ chồng sống ly thân đến nay, trong thời gian sống ly thân hai bên không ai muốn hàn gắn. Nay nhận thấy không còn tình cảm, không thể tiếp tục chung sống nên chị Đ yêu cầu ly hôn với anh C.

- Về con chung: Có một con chung tên Bùi Thiện Q, sinh ngày 15/4/2010. Khi ly hôn, chị Đ yêu cầu được nuôi con và không yêu cầu anh C cấp dưỡng.

- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn là anh Bùi Thiện C trình bày: Về thời gian, điều kiện tiến đến hôn nhân như chị Đ trình bày. Trong thời gian chung sống, do tính tình không hợp nên vợ chồng thường xuyên cãi vả. Nhận thấy có tiếp tục thì hôn nhân cũng không hạnh phúc nên anh C đồng ý ly hôn với chị Đ.

- Về con chung: Có một con chung tên Bùi Thiện Q, sinh ngày 15/4/2010. Khi ly hôn, anh C đồng ý giao con chung cho chị Đ tiếp tục nuôi dưỡng, anh không cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa:

- Chị Nguyễn Thị Nguyễn Thị Ngọc Đ và anh Bùi Thiện C vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn trình bày quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Tòa án thụ lý, xác định quan hệ tranh chấp, xác định tư cách đương sự, thu thập chứng cứ đảm bảo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; thành phần Hội đồng xét xử không thuộc trường hợp phải thay đổi. Chị Đ và anh C vắng mặt nhưng có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung: Do chị Đ và anh C chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2009 nhưng không có đăng ký kết hôn, đến nay vẫn không đăng ký kết hôn theo quy định nên đề nghị Hội đồng xét xử không công nhận chị Đ và anh C là vợ chồng; về con chung: giao cháu Bùi Thiện Q, sinh ngày 15/4/2010 cho chị Đ tiếp tục nuôi dưỡng, anh C không cấp dưỡng nuôi con do chị Đ không yêu cầu; về tài sản chung, nợ chung: Do đương sự không yêu cầu nên không xem xét. Chị Nguyễn Thị Ngọc Đ phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị Nguyễn Thị Ngọc Đ và anh Bùi Thiện C chung sống với nhau từ năm 2009 nhưng không đăng ký kết hôn. Anh Bùi Thiện C có hộ khẩu thường trú tại huyện ThS, tỉnh An Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn theo quy định tại Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 28, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho chị Nguyễn Thị Ngọc Đ và anh Bùi Thiện C để tham gia phiên tòa nhưng chị Đ và anh C có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự là phù hợp quy định tại Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[3] Xét việc tranh chấp:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Đ và anh C tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2009 nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Trong quá trình chung sống cả hai phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm, mặc dù đã tìm nhiều biện pháp khắc phục nhưng vẫn không thể hòa hợp. Do đó, khoảng năm 2014 thì cả hai quyết định sống ly thân đến nay. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành hòa giải đã hai bên hàn gắn nhưng chị Đ vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn, anh C cũng đồng ý ly hôn cho thấy mâu thuẫn của cả hai đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Tuy nhiên, do chị Đ và anh C chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn là vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, cụ thể:

“1. Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch.

Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý.”

Và khoản 1 Điều 14 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

“1. Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng.”

Do đó, hôn nhân giữa chị Đ và anh C không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng, nên chị Đ yêu cầu ly hôn với anh C không được chấp nhận mà cần không công nhận chị Đ và anh C là vợ chồng.

[4] Về con chung: Chị Đ và anh C trình bày có 01 con chung tên Bùi Thiện Q, sinh ngày 15/4/2010. Khi ly hôn, chị Đ và anh C thống nhất giao cháu Quốc cho chị Đ tiếp tục nuôi dưỡng. Tòa án ghi nhận ý kiến của cháu Q qua đó thể hiện nguyện vọng của cháu muốn tiếp tục sống với chị Đ. Thấy rằng, sự thỏa thuận của chị Đ anh C phù hợp với nguyện vọng của cháu Q nên Hội đồng xét xử quyết định giao cháu Q cho chị Đ tiếp tục nuôi dưỡng. Do chị Đ không yêu cầu anh C cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về tài sản chung: Chị Đ và anh C không yêu cầu Tòa án giải quyết nên nên Hội đồng xét xử không có cơ sở xem xét.

[6] Về nợ chung: Chị Đ và anh C trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên nên Hội đồng xét xử không có cơ sở xem xét.

[7] Về án phí: Chị Nguyễn Thị Ngọc Đ phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Anh Bùi Thiện C không phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 9, 14, 15, 51, 53, 58, 81, 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị Nguyễn Thị Ngọc Đ và anh Bùi Thiện C là vợ chồng.

2. Về con chung: Giao cháu Bùi Thiện Q, sinh ngày 15/4/2010 cho chị Nguyễn Thị Ngọc Đ tiếp tục nuôi dưỡng. Anh Bùi Thiện C không cấp dưỡng nuôi con.

Anh Bùi Thiện C và các thành viên trong gia đình (nếu có) phải tôn trọng quyền được nuôi con của chị Nguyễn Thị Ngọc Đ. Chị Nguyễn Thị Ngọc Đ và các thành viên trong gia đình (nếu có) không được cản trở anh Bùi Thiện C trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Ngọc Đ phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0011800 ngày 24 tháng 5 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, chị Nguyễn Thị Ngọc Đ không phải nộp thêm. Anh Bùi Thiện C không phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Các đương sự không phải chịu các chi phí tố tụng khác.

4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

5. Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ