- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Tuyền V
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 131/2023/HNGĐ-ST Ngày: 26/9/2023 V/v: “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Văn Hơn
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Thanh Sơn
2. Ông Đặng Văn Minh
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Văn Đạc - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.
Ngày 26 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 271/2023/TLST-HNGĐ ngày 05/7/2023, về việc: “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 117a/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 22/8/2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 102/2023/QĐST-HNGĐ ngày 11/9/2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Trần Thị Tuyền V – Sinh năm 1989
Địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận
Bị đơn: Ông Đỗ Văn N – Sinh năm 1990
Địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.
Tại phiên tòa có mặt bà V, vắng mặt ông N.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 28 tháng 6 năm 2023, cũng như các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Trần Thị Tuyền V trình bày: Bà và ông Đỗ Văn N tự nguyện tìm hiểu, yêu thương nhau chung sống với nhau từ năm 2017, có làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận ngày 18/4/2017, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 20 ngày 18/4/2017 của UBND xã H. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng sống chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì bắt đầu xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân xãy ra mâu thuẫn là do ông N không lo lắng chăm sóc cho gia đình, thường xuyên chơi bời và có mối quan hệ bên ngoài dẫn tới hai vợ chồng thường xuyên cải vã, cuộc sống hôn nhân luôn căng thẳng nặng nề, hai vợ chồng ly thân hơn một năm nay, từ khi ly thân đến nay vợ chồng không ai thăm hỏi ai, mạnh ai nấy sống. Trong quá trình chung sống, vợ chồng có 02 con chung tên Đỗ Đắc Thiên A, sinh ngày 01/11/2017 và Đỗ Bảo Thiên Đ, sinh ngày 07/10/2019. Từ khi ly thân, bà đang trực tiếp cháu Đ, còn ông N đang trực tiếp nuôi cháu A. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nguyên đơn bà Trần Thị Tuyền V khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Về hôn nhân: Bà Trần Thị Tuyền V yêu cầu giải quyết ly hôn với ông Đỗ Văn N
- Về con chung: Sau khi ly hôn, bà có nguyện vọng được trực tiếp nuôi cháu Đ và giao cháu A cho ông N trực tiếp nuôi dưỡng. Không ai cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho ai.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án, Tòa án đã ra thông báo về phiên hòa giải và tiến hành tống đạt hợp lệ cho bị đơn nhiều lần nhưng đều vắng mặt. Theo Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn bà Trần Thị Tuyền V có đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn, nuôi con chung với bị đơn ông Đỗ Văn N. Đây là tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung. Bị đơn ông Đỗ Văn N có địa chỉ tại Thôn P, xã H, huyện Hàm Thuận Bắc, theo quy định tại Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.
Về sự vắng mặt của bị đơn ông Đỗ Văn N tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay không thuộc trường hợp phải hoãn phiên tòa. Bởi lẽ, ông N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ các văn bản tố tụng: “Thông báo thụ lý vụ án; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải; thông báo kết quả phiên họp; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa” theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng vẫn cố tình vắng mặt, chứng tỏ ông N tự từ bỏ quyền và không thực hiện nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Căn cứ Điểm b Khoản 2 Điều 227 và Khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông N.
Đối với việc tham gia phiên tòa của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc: Trong vụ án này, Tòa án không phải thu thập chứng cứ nên theo quy định tại Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự, thì vụ án không cần phải có Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Về nội dung:
[4.a] Về hôn nhân: Xét yêu cầu ly hôn của bà V, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bà V và ông N tự nguyện tìm hiểu, yêu thương nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận ngày 18/4/2017 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Trong cuộc sống, do tính cách không hợp nhau, vợ chồng thường xuyên cải vã qua lại, mâu thuẫn xãy ra liên tục trong thời gian dài, cuộc sống luôn căng thẳng nặng nề, nguyên nhân dẫn tới mâu thuẫn là do ông N hay chơi bời, không chăm lo tới gia đình và có mối quan hệ ngoài luồng. Vợ chồng không còn chung sống với nhau hơn một năm nay. Từ khi ly thân đến nay, vợ chồng không ai quan tâm tới ai, mạnh ai nấy sống, không còn tha thiết gì với hôn nhân của mình. Quá trình giải quyết vụ án, ông N cố tình lẫn tránh, không hợp tác, không có thiện chí để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Tại phiên tòa, bà V kiên quyết ly hôn, điều này chứng tỏ tình cảm vợ chồng đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, việc bà V xin ly hôn với ông N là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4.b] Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Đỗ Đắc Thiên A, sinh ngày 01/11/2017 và Đỗ Bảo Thiên Đ, sinh ngày 07/10/2019. Sau khi ly hôn, bà V có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đ và giao cháu A cho ông N trực tiếp nuôi dưỡng. Xét từ khi ly thân thì cháu A đang ở với ông N, cháu Đ đang ở với bà V, để tránh xáo trộn cuộc sống của cháu A và cháu Đ nên giao cháu A cho ông N trực tiếp nuôi dưỡng và giao cháu Đ cho bà V trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Về cấp dưỡng nuôi con bà V không yêu cầu, ông N không có ý kiến nên hội đồng xét xử không xem xét.
Bà V, ông N có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con và cấp dưỡng nuôi con khi cần thiết.
[4.c] Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
Về án phí: Bà Trần Thị Tuyền V phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147, Điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Tuyền V
- Về hôn nhân: Bà Trần Thị Tuyền V được ly hôn với ông Đỗ Văn N
- Về con chung: Giao cháu Đỗ Bảo Thiên Đ, sinh ngày 07/10/2019 cho bà Trần Thị Tuyền V trực tiếp nuôi dưỡng. Giao cháu Đỗ Đắc Thiên A, sinh ngày 01/11/2017 cho ông Đỗ Văn N trực tiếp nuôi dưỡng. Không ai cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho ai.
Chị Vân và ông N có quyền thăm nom con không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con khi cần thiết.
- Về tài sản chung, và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Về án phí:
Bà Trần Thị Tuyền V phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0019540 ngày 05/7/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận. Bà Trần Thị Tuyền V đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm. Ông Đỗ Văn N không phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
3. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (26/9/2023). Đối với đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Bình Thuận; -VKSND huyện Hàm Thuận Bắc; -Chi cục THADS huyện Hàm Thuận Bắc; -Các đương sự; -UBND(Nơi đăng ký kết hôn); -Lưu: VT, hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Văn Hơn |