- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài — án hôn nhân và gia đình — "Trần Văn Phương - Đinh Thị Liên"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án,
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 131/2023/HNGĐ-ST Ngày 26-6-2023 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Bích Diệp
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Cao Thị Hạ
Bà Vũ Thị Minh Nguyệt.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hương Giang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thu Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 58/2023/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 3 năm 2023 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 101/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 45/2023/QĐ-ST ngày 07 tháng 6 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Trần Văn Phương; địa chỉ: Thôn Trung, xã Phục Lễ, huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Chị Đinh Thị Liên; nơi đăng ký thường trú: Thôn Trung, xã Phục Lễ, huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng; nơi cư trú cuối cùng tại Việt Nam: Thôn 2, xã Phả Lễ, huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện nay: Đài Loan. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 13 tháng 10 năm 2022 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là anh Trần Văn Phương trình bày:
Anh và chị Đinh Thị Liên kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký (lần 2) tại Uỷ ban nhân dân xã Phục Lễ, huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng vào năm 2020. Sau khi kết hôn, anh và chị Liên chung sống tại thôn Trung, xã Phục Lễ, huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống, thời gian đầu, vợ chồng hoà thuận, hạnh phúc; sau đó phát sinh mâu thuẫn do chị Liên muốn theo đạo Tin Lành nhưng anh không đồng ý. Khi vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, chị Liên về nhà bố mẹ đẻ sinh sống, từ đó vợ chồng không còn quan tâm, liên lạc với nhau. Quá trình làm thủ tục ly hôn với chị Liên, anh được biết chị Liên đã đi nước ngoài từ tháng 5 năm 2022 nhưng anh không biết và không cung cấp được địa chỉ cụ thể ở nước ngoài của chị Liên. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, gia đình không có khả năng đoàn tụ nên anh xin được ly hôn với chị Liên.
Về con chung: Giữa anh Phương và chị Liên có 02 con chung là Trần Thị Phượng, sinh ngày 08 tháng 3 năm 2005 và Trần Văn Hoàng, sinh ngày 17 tháng 10 năm 2011. Đối với cháu Phượng hiện đã thành niên đủ 18 tuổi nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Hoàng và không yêu cầu chị Liên phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn là chị Đinh Thị Liên không có ý kiến trình bày.
Tại Văn bản đề ngày 01 tháng 4 năm 2023, con chung của anh Trần Văn Phương và chị Đinh Thị Liên là cháu Trần Văn Hoàng trình bày:
Hiện tại cháu đang sống cùng với bố, còn mẹ đang đi làm xa không có nhà. Trường hợp bố mẹ không sống cùng nhau thì nguyện vọng của cháu là được sống cùng với bố.
Theo Biên bản xác minh ngày 07 tháng 4 năm 2023 tại địa phương nơi anh Trần Văn Phương và chị Đinh Thị Liên từng chung sống:
Anh Trần Văn Phương và chị Đinh Thị Liên đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Phục Lễ vào khoảng năm 2020. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống cùng gia đình anh Phương tại thôn Trung, xã Phục Lễ, huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống, giữa anh Phương và chị Liên có phát sinh mâu thuẫn hay không thì địa phương không nắm được; tuy nhiên không đánh cãi chửi nhau gây ảnh hưởng đến hàng xóm, láng giềng. Đến khoảng năm 2022, chị Liên không còn sinh sống cùng gia đình anh Phương, địa phương chỉ nhận được thông tin là chị Liên đi Đài Loan. Việc ly hôn giữa anh Phương và chị Liên không thông qua Hội Phụ nữ thôn nên không tiến hành hoà giải được ở cơ sở. Nay anh Phương có đơn xin ly hôn, đề nghị Toà án xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.
Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên toà:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên toà đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm nghị án. Các đương sự về cơ bản đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của người tham gia tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Anh Trần Văn Phương và chị Đinh Thị Liên kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký tại Uỷ ban nhân dân xã Phục Lễ, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nên chị Liên đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ; sau đó sang nước ngoài sinh sống và làm việc, đến nay chưa trở về Việt Nam; vợ chồng cũng không còn liên lạc, quan tâm đến nhau, gia đình không có khả năng đoàn tụ. Vì vậy, yêu cầu của anh Phương xin ly được ly hôn với chị Liên là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung: Giữa anh Phương và chị Liên có hai con chung là Trần Thị Phượng, sinh ngày 08 tháng 3 năm 2005 và Trần Văn Hoàng, sinh ngày 17 tháng 10 năm 2011. Con chung Trần Thị Phượng hiện đã thành niên và có khả năng lao động nên đề nghị Hội đồng xét xử không xét. Đối với con chung Trần Văn Hoàng, đề nghị Hội đồng xét xử giao cho anh Phương trực tiếp nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con và tài sản chung: Anh Trần Văn Phương không yêu cầu Toà án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xét.
Về án phí: Anh Trần Văn Phương phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Về tố tụng: Đây là vụ án dân sự về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại thời điểm khởi kiện, bị đơn là chị Đinh Thị Liên đang cư trú tại nước ngoài. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39 và điểm d khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Theo thông tin do Cục Quản lý Xuất nhập cảnh - Bộ Công an cung cấp, chị Đinh Thị Liên đã xuất cảnh từ tháng 5 năm 2022 và đến thời điểm Tòa án thụ lý vụ án thì chưa có thông tin nhập cảnh về Việt Nam. Nguyên đơn là anh Trần Văn Phương chỉ cung cấp được địa chỉ nơi cư trú cuối cùng ở Việt Nam của chị Liên mà không cung cấp được địa chỉ của chị Liên ở nước ngoài.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã hai lần gửi thông báo yêu cầu bố mẹ đẻ của chị Liên là ông Đinh Hữu Dừa và bà Nguyễn Đinh Thị Luyện cung cấp địa chỉ, tin tức của chị Liên và thông báo cho chị Liên biết việc Tòa án đang thụ lý, giải quyết vụ án ly hôn giữa anh Phương và chị Liên. Đồng thời Tòa án đã tiến hành làm việc trực tiếp với ông Dừa và bà Luyện thì được ông bà cung cấp như sau: Chị Đinh Thị Liên vẫn thường xuyên liên lạc về với gia đình và thông qua ông bà để gửi tiền nuôi dưỡng con chung cho anh Phương. Tuy nhiên, ông bà từ chối cung cấp địa chỉ của chị Liên tại Đài Loan cho Tòa án; ông bà đã nhận được các văn bản do Tòa án gửi và thông báo cho chị Liên biết việc Tòa án đang giải quyết vụ án ly hôn giữa anh Phương và chị Liên nhưng yêu cầu chị Liên không gửi ý kiến về cho Tòa án. Như vậy, cần coi đây là trường hợp bị đơn cố tính tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết theo hướng dẫn tại Công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân tối cao. Căn cứ vào hướng dẫn nêu trên, Tòa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bị đơn theo thủ tục chung.
Tại phiên toà, nguyên đơn là anh Trần Văn Phương vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn là chị Đinh Thị Liên đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt tất cả các đương sự theo quy định tại khoản 1 Điều 228 và khoản 1 Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Anh Trần Văn Phương và chị Đinh Thị Liên kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký tại Uỷ ban nhân dân xã Phục Lễ, huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng vào ngày 05 tháng 6 năm 2020 là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, do vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nên chị Liên đã về nhà bố mẹ đẻ, sau đó sang nước ngoài sinh sống và làm việc, từ đó vợ chồng sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau. Xét, anh Phương và chị Liên hiện mỗi người ở một nơi, gia đình không có khả năng đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu của anh Trần Văn Phương xin được ly hôn với chị Đinh Thị Liên là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
Về con chung: Anh Phương và chị Liên có hai con chung là Trần Thị Phượng, sinh ngày 08 tháng 3 năm 2005 và Trần Văn Hoàng, sinh ngày 17 tháng 10 năm 2011. Con chung Trần Thị Phượng hiện đã thành niên và có khả năng lao động nên Hội đồng xét xử không xét. Đối với con chung Trần Văn Hoàng, hiện đang sống cùng anh Phương; trong khi chị Liên đang sống ở nước ngoài, không có điều kiện trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con; cháu Hoàng cũng có nguyện vọng được sống cùng với bố. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trần Văn Phương về việc giao con chung Trần Văn Hoàng cho anh Phương trực tiếp nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con và tài sản chung: Anh Trần Văn Phương không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét. Các đương sự có quyền khởi kiện bằng vụ án khác theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Anh Trần Văn Phương phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các điều 28, 37, 39, 147, 228, 235, 238, 273, 469 và 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các điều 19, 56, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án,
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Trần Văn Phương ly hôn chị Đinh Thị Liên.
2. Về con chung: Đối với con chung Trần Thị Phượng, sinh ngày 08 tháng 3 năm 2005 hiện đã thành niên (đủ 18 tuổi) và có khả năng lao động nên không xét.
Giao con chung Trần Văn Hoàng, sinh ngày 17 tháng 10 năm 2011 cho anh Trần Văn Phương trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con thành niên (đủ 18 tuổi) hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Trần Văn Phương không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét. Các đương sự có quyền khởi kiện bằng vụ án khác theo quy định của pháp luật.
3. Về tài sản chung: Anh Trần Văn Phương không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xét. Các đương sự có quyền khởi kiện bằng vụ án khác theo quy định của pháp luật.
4. Về án phí: Anh Trần Văn Phương phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Anh Trần Văn Phương đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) - tiền tạm ứng án phí sơ thẩm theo biên lai số 0008366 ngày 14 tháng 12 năm 2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Anh Trần Văn Phương đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo:
Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND thành phố Hải Phòng; - Cục THADS thành phố Hải Phòng; - Chi cục THADS huyện Thủy Nguyên; - UBND xã Phục Lễ, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng; - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Bích Diệp |