vanban.org

Bản án 131/2023/HC-PT — Hành chính

TAND cấp cao tại TP Hồ Chí Minh Tuyên án 10/03/2023 Hành chính Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 10/03/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bà Thạch Thị Sô Ph.

Bác yêu cầu khởi kiện của bà Thạch Thị Sô Ph do ông Trần Văn Tr làm đại diện hợp pháp về yêu cầu huỷ Quyết định số 1861/QĐ-STNMT ngày 31/12/2020 của Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Trà Vinh. Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật k… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "Thạch Thị Sô Ph kiện VP đăng ký đất đai"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bà Thạch Thị Sô Ph.
  • Căn cứ chính? Điều 241 Luật tố tụng hành chính; Điều 242 Luật tố tụng hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 131/2023/HC-PT
Ngày 10 - 3 -2023
V/v Khiếu kiện quyết định hành chính.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có :

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Hoàng Thanh Dũng

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Văn Minh

Bà Hồ Thị Thanh Thúy

- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Phương Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Tuyết - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số: 752/2022/TLPT-HC ngày 17 tháng 11 năm 2022 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính”.

Do Bản án hành chính sơ thẩm số 07/2022/HC-ST ngày 29 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 79/2023/QĐ-PT ngày 23 tháng 02 năm 2023, giữa các đương sự:

- Người khởi kiện: Bà Thạch Thị Sô Ph, sinh năm 1995; địa chỉ ấp C, xã H, huyện Ch, tỉnh Trà Vinh.

Người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện: Ông Trần Văn Tr, sinh năm 1963; địa chỉ: đường 30/4, khóm 5, thị trấn Ch, huyện Ch, tỉnh Trà Vinh, theo văn bản ủy quyền ngày 26/11/2021. (có mặt)

- Người bị kiện: Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Trà Vinh - Ông Trần Văn H; địa chỉ trụ sở: đường M, khóm 3, Phường 6, thành phố Tr, tỉnh Trà Vinh. (có văn bản xin xét xử vắng mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/. Giám đốc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Trà Vinh là ông Nguyễn Minh T; địa chỉ trụ sở: đường M, khóm 3, Phuờng 6, thành phố Tr, tỉnh Trà Vinh. (có văn bản xin xét xử vắng mặt)

2/. Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Ch, tỉnh Trà Vinh; địa chỉ trụ sở: Khóm 2, thị trấn Ch, huyện Ch, tỉnh Trà Vinh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Minh Tr, chức vụ: Giám đốc Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Ch. (vắng mặt)

- Người kháng cáo: Bà Thạch Thị Sô Ph.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 29/11/2021 và trong quá trình tố tụng người khởi kiện bà Thạch Thị Sô Ph do ông Trần Văn Tr làm đại diện hợp pháp trình bày:

Vào ngày 21/6/2017 bà Thạch Thị Sô Ph có làm đơn chuyển mục đích sử dụng đất từ trồng cây lâu năm 256m2 và đất trồng lúa 44m2 sang đất ở nông thôn thuộc thửa 2094 tổng diện tích 300m2, tờ bản đồ số 38, tọa lạc ấp T, xã H, huyện Ch, tỉnh Trà Vinh. Thời điểm đó Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất huyện Ch xác định đất bà Sô Ph thuộc vị trí 2 của đường tránh Quốc Lộ 53 xã H. Do được miễn tiền sử dụng đất nên bà Sô Ph không khiếu nại, sau đó Nhà nước xác định bà Sô Ph không thuộc đối tượng được miễn tiền sử dụng đất nên buộc bà Sô Ph phải nộp tiền khắc phục, bà Sô Ph đã nộp tiền khắc phục xong. Tuy nhiên bà Sô Ph không đồng ý đất vị trí 2 vì vị trí đất của bà Sô Ph nằm trong vị trí đất còn lại, ngoài các vị trí đất đã nêu tại khoản 1, 2, 3, 4, 5 Điều 6 của Quyết định số 40/2014/QĐ-UBND ngày 19/12/2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh Trà Vinh về ban hành bảng giá đất 05 năm (2015-2019). Bà Sô Ph đã làm đơn khiếu nại đến Văn phòng đăng ký đất đai huyện Ch. Tại Công văn số 220/CN-HCT ngày 05/8/2020 của Văn phòng đăng ký đất đai huyện Ch xác định vị trí đất từ điểm 0 của đường tránh Quốc lộ 53 xã H vào 30m được tính vị trí 2 là đúng. Bà Sô Ph không đồng ý nên tiếp tục khiếu nại đến Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Trà Vinh. Ngày 16/10/2020 Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Trà Vinh ra Quyết định số 312/QĐ-VPĐKĐĐ giữ nguyên kết quả xác định đất của bà Sô Ph ở vị trí 2. Bà Sô Ph khiếu nại đến Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Trà Vinh và nhận được Quyết định số 1861/QĐ-STNMT ngày 31/12/2020 quyết định công nhận và giữ nguyên nội dung Quyết định số 312/QĐ-VPĐKĐĐ ngày 16/10/2020 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Trà Vinh. Nay bà Sô Ph yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh hủy Quyết định số 1861/QĐ-STNMT ngày 31/12/2020 của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Trà Vinh xác định lại vị trí đất của bà Sô Ph là vị trí 5 không phải vị trí 2 như xác định của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Ch.

Người bị kiện do ông Nguyễn Vạn Kh làm đại diện hợp pháp có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt và có ý kiến trình bày tại Công văn số 447/STNMT-TTr ngày 23/02/2022 như sau:

Ngày 21/6/2017, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Ch có nhận hồ sơ chuyển mục đích sử dụng đất từ đất chuyên trồng lúa nước (LUC 44m2), cây lâu năm (CLN 256m2) sang đất ở tại nông thôn đối với thửa đất số 2094, tờ bản đồ số 38, diện tích 300m2, tọa lạc tại ấp T, xã H, huyện Ch, tỉnh Trà Vinh của bà Thạch Thị Sô Ph. Ngày 27/6/2017, Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Ch có Tờ trình số 348/TTr- PTNMT về việc chuyển mục đích sử dụng đất sang đất ở đối với thửa đất 2094, ngày 29/6/2017 Ủy ban nhân dân huyện Ch có Quyết định số 5438/QĐ-UBND với nội dung cho phép bà Thạch Thị Sô Ph chuyển mục đích sử dụng đất từ đất chuyên trồng lúa nước, trồng cây lâu năm sang đất ở tại nông thôn với diện tích 300m2 thuộc thửa 2094. Ngày 04/7/2017, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Ch có phiếu chuyển thông tin để xác định nghĩa vụ tài chính số 3003/PCTTĐC đối với thửa đất 2094, ngày 06/7/2017 Chi cục thuế huyện Ch có Thông báo số 905/TB-CCT về việc nộp tiền sử dụng đất, xác định số tiền phải nộp là 415.320.000 đồng, tuy nhiên số tiền trên được miễn nộp theo quy định tại khoản 2 Điều 13 của Thông tư số 76/2014/TT-BTC ngày 16/6/2014 của Bộ Tài chính về miễn tiền sử dụng đất hộ đồng bào dân tộc thiểu số vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Đến tháng 12/2019, Ủy ban nhân dân huyện Ch tổ chức kiểm tra, khảo sát các trường hợp miễn tiền sử dụng đất đối với người dân tộc trên địa bàn huyện, xác định trường hợp của bà Thạch Thị Sô Ph không thuộc đối tượng miễn tiền chuyển mục đích sử dụng đất nên bà đã nộp đủ và cũng thống nhất vị trí đất, nhưng sau đó yêu cầu xác định lại vị trí đất để nộp tiền sử dụng đất.

Về việc xác định thửa đất 2094 diện tích 300m2, tờ bản đồ số 38 thuộc vị trí 2 với cơ sở sau:

- Trước năm 2004, không có đoạn đường đi vào lò giết mổ PN (đoạn đường móng cầu đường tránh Quốc lộ 53 vào tiếp giáp với bờ kênh B), các hộ dân phục vụ sản xuất trong khu vực này đi theo bờ kênh (kênh B đi từ xã H2 qua ấp T, xã H chạy dài và đến Phường 9, thành phố Tr). Năm 2004 sau khi Quốc lộ 53 (đường N) hình thành, các hộ không thể đi lại trên bờ kênh (đoạn cầu H2) do cản trở cầu H2 nên các hộ đi cặp theo hướng móng cầu H2 và một phần đất của hộ dân để lên đường tránh Quốc lộ 53. Sau đó trong khu vực này phát sinh đất phân lô, bán nền, các hộ dân cất nhà, cơ sở kinh doanh lò giết mổ PN nên các hộ dân tự làm đường nhựa như hiện nay để đi lại. Khi khảo sát đất để đưa vào bảng giá đất 05 (2015-2019) theo Quyết định số 40/2014/QĐ-UBND ngày 19/12/2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh Trà Vinh thì đoạn đường từ móng cầu đường tránh Quốc lộ 53 vào tiếp giáp với bờ kênh B thuộc ấp T, xã H là lối mòn (một phần diện tích đất trước đây Nhà nước thu hồi làm móng cầu H2 và một phần đất của hộ dân đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) nên không đưa vào bảng giá đất. Từ đó, căn cứ vào khoản 3 Điều 6 của Quyết định số 40/2014/QĐ-UBND ngày 19/12/2014, thời điểm tháng 7/2017 Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Ch xác định thửa đất 2094 diện tích 300m2, tờ bản đồ số 38 thuộc vị trí 2 (vị trí tính từ điểm 0 đến 30m của đường tránh Quốc lộ 53

- điểm 0 được xác định từ mốc lộ giới Quốc lộ 53) là đúng quy định.

Về trình tự và thẩm quyền giải quyết khiếu nại bà Thạch Thị Sô Ph được thực hiện theo đúng quy định của Luật khiếu nại năm 2011.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Minh T là Giám đốc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Trà Vinh có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt trình bày ý kiến tại Công văn số 513/VPĐKĐĐ-KTĐC ngày 24/8/2022 như sau:

Văn phòng đăng ký đất đai nhận đơn khiếu nại ngày 08/9/2022 của bà Thạch Thị Sô Ph khiếu nại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Ch về việc xác định vị trí thửa đất 2094, tờ bản đồ số 38, tọa lạc tại ấp T, xã H, huyện Ch, tỉnh Trà Vinh thuộc vị trí 2 theo Quyết định số 40/2014/QĐ-UBND ngày 19/12/2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh Trà Vinh về ban hành bảng giá đất 05 năm (2015-2019) trên địa bàn tỉnh Trà Vinh, bà Thạch Thị Sô Ph đề nghị xác định là vị trí 5. Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Trà Vinh đã thành lập Tổ xác định nội dung khiếu nại và qua các buổi làm việc với các cơ quan chuyên môn, căn cứ hiện trạng thửa đất của bà Sô Ph đang sử dụng thì thửa 2094 thuộc vị trí 2. Căn cứ vào quy định tại khoản 3 Điều 6 của Quyết định số 40/2014/QĐ-UBND ngày 19/12/2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh Trà Vinh thì Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Ch xác định vị trí đất thửa đất 2094 diện tích 300m2 vị trí 2 là đúng quy định.

Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Ch do ông Nguyễn Minh Tr làm người đại diện hợp pháp có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt và có ý kiến trình bày: Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Ch không bổ sung hay thay đổi vị trí thửa đất theo Công văn số 220/CNHCT ngày 05/8/2020 về xác định vị trí thửa đất của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Ch.

Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 07/2022/HC-ST ngày 29 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh đã quyết định:

Bác yêu cầu khởi kiện của bà Thạch Thị Sô Ph do ông Trần Văn Tr làm đại diện hợp pháp về yêu cầu huỷ Quyết định số 1861/QĐ-STNMT ngày 31/12/2020 của Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Trà Vinh.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí hành chính sơ thẩm và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 10/10/2022, bà Thạch Thị Sô Ph có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của bà Thạch Thị Sô Ph trình bày vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Sô Ph.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:

- Về chấp hành pháp luật: Hội đồng xét xử phúc thẩm đã chấp hành đúng các quy định của Luật tố tụng hành chính trong quá trình giải quyết vụ án.

- Về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết vụ án là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của người khởi kiện, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến của luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người khởi kiện và ý kiến của kiểm sát viên, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về hình thức: Đơn kháng cáo của bà Thạch Thị Sô Ph làm trong hạn luật định, hợp lệ nên được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Về nội dung:

Bà Thạch Thị Sô Ph khởi kiện yêu cầu huỷ Quyết định số 1861/QĐ-STNMT ngày 31/12/2020 của Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Trà Vinh và đề nghị xác định thửa đất số 2094 diện tích 300m2 của bà Sô Ph thuộc vị trí 5 nằm trong các vị trí đất còn lại và ngoài các vị trí đất đã nêu tại khoản 1, 2, 3, 4, 5 Điều 6 của Quyết định số 40/2014/QĐ-UBND ngày 19/12/2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh Trà Vinh.

Xét thấy, vị trí thửa đất của bà Sô Ph có mặt tiền hướng ra Quốc lộ 53; lối đi ra vào từ thửa 2094 ra Quốc lộ 53 là lối đi thuận tiện, không bị cản trở và là gần nhất. Theo quy định tại khoản 3 Điều 6 của Quyết định số 40/2014/QĐ-UBND ngày 19/12/2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh Trà Vinh về việc việc ban hành bảng giá 05 năm 2015-2019 trên địa bàn tỉnh Trà Vinh đã kết luận đối với thửa đất nằm phía sau của thửa đất mặt tiền của chủ sử dụng khác, không tiếp giáp hẻm và các đường giao thông trên địa bàn các xã nối liền với đoạn, tuyến đường nêu tại phụ lục bảng giá của Ủy ban nhân dân tỉnh Trà Vinh trong phạm vi từ điểm 0 vào 30m được tính vị trí 2.

Tại Công văn số 448/VPĐKĐĐ-KTĐC ngày 01/8/2022 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Trà Vinh về kết quả khảo sát, đo đạc xác định vị trí đất thể hiện: Năm 2017 vị trí thửa 2094 diện tích 300m2, tờ bản đồ số 38, tài liệu đo đạc năm 2006 theo Quyết định số 40/2014/QĐ-UBND ngày 19/12/2014 là vị trí 2 (đường tránh Quốc lộ 53 đoạn giáp ranh thành phố Tr đến Quốc lộ 53); Năm 2022 vị trí thửa 2094 diện tích 300m2, tài liệu đo đạc năm 2006 theo Quyết định số 35/2019/QĐ-UBND ngày 20/12/2019 là vị trí 1 (đường N đoạn giáp ranh thành phố Tr đến Quốc lộ 53).

Như vậy, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Ch xác định năm 2017 thửa đất bà Sô Ph khiếu nại thuộc vị trí 2 để tính tiền chuyển mục đích sử dụng đất là có căn cứ.

Ngày 16/10/2020 Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Trà Vinh ban hành Quyết định số 312/QĐ-VPĐKĐĐ về việc giải quyết khiếu nại của bà Thạch Thị Sô Ph (lần đầu) quyết định giữ nguyên kết quả xác định vị trí thửa 2094 diện tích 300m2 của bà Sô Ph thuộc vị trí 2 như Công văn số 220/CNHCT ngày 05/8/2020 Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Ch; ngày 31/12/2020 Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Trà Vinh ban hành Quyết định số 1861/QĐ-STNMT về việc giải quyết khiếu nại của bà Thạch Thị Sô Ph (lần 2) quyết định công nhận Quyết định số 312/QĐ-VPĐKĐĐ của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Trà Vinh, bác đơn khiếu nại của bà Sô Ph là đúng quy định pháp luật.

Bà Sô Ph cho rằng thửa đất của bà Sô Ph và một số thửa đất khác không thể đi lên đường tránh Quốc lộ 53 mà phải đi vào đường lò giết mổ PN nên không đồng tình việc căn cứ vào vị trí tiếp giáp đường tránh Quốc lộ 53 để xác định thửa đất 2094 là vị trí 2 của đường tránh Quốc lộ 53. Hội đồng xét xử thấy rằng theo Công văn số 3781/UBND-KT ngày 25/7/2022 của Ủy ban nhân dân huyện Ch thì đường vào lò giết mổ PN (đường cặp kênh) theo đồ án quy hoạch xây dựng nông thôn mới có tên là đường D2, kết cấu mặt đường là nhựa mặt 4m, ghi nhận hiện tại là đường nhựa 4m; trước năm 2017 là đường đất, sau năm 2017 hộ dân sinh sống trong khu vực đó hùn tiền lại đổ đá, láng nhựa để thuận tiện đi lại của người dân từ đường D2 lên đường tránh Quốc lộ 53; thời điểm năm 2017 đoạn này không nằm trong đồ án quy hoạch xây dựng nông thôn mới của xã nên lời trình bày của bà Sô Ph là không có cơ sở chấp nhận.

Từ các phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Kháng cáo của bà Thạch Thị Sô Ph không có cơ sở chấp nhận; cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Do kháng cáo không được chấp nhận nên bà Thạch Thị Sô Ph phải chịu án phí hành chính phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 241, Điều 242 Luật tố tụng hành chính.

Không chấp nhận kháng cáo của bà Thạch Thị Sô Ph. Giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 07/2022/HC-ST ngày 29 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.

Bác yêu cầu khởi kiện của bà Thạch Thị Sô Ph do ông Trần Văn Tr làm đại diện hợp pháp về yêu cầu huỷ Quyết định số 1861/QĐ-STNMT ngày 31/12/2020 của Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Trà Vinh.

Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bà Thạch Thị Sô Ph phải chịu 300.000 đồng án phí hành chính phúc thẩm; được khấu trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0012884 ngày 10/10/2022 của Cục Thi hành án án dân sự tỉnh Trà Vinh vào phần án phí phải chịu.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ tuyên án.

Cỡ chữ