- Tranh chấp gì? Tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản, thanh toán phí tổn đăng ký mua tài sản bán đấu giá theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự — án dân sự — "Nguyễn Minh T - Chi cục thi hành án dân sự quận B"
- Tòa quyết gì? dân sự năm 2015; Căn cứ vào các Điều 35, 36, 46 của Nghị định số:
- Căn cứ chính? Điều 101 Luật Thi hành án dân sự; Điều 106 Luật Thi hành án dân sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:131/2023/DS-PT Ngày: 08-02-2023 V/v Tranh chấp kết quả bán đấu giá tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan Hương
Các Thẩm phán:
Bà Võ Thị Kim Thương
Bà Trịnh Thị Ánh
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hương - Thư k Tòa án nhân dân Thành
phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia
phiên tòa: Ông Tào Minh Quân - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 02 năm 2023 t i Tr s Tòa án nhân dân Thành phố
Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai v án th l số: 493/2022/TLPT-DS
ngày 23 tháng 11 năm 2022 về việc “Tranh chấp kết quả bán đấu giá tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 342/2022/DS-ST ngày 23/9/2022 của Tòa
án nhân dân quận B, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa v án ra xét xử phúc thẩm số: 6219/2022/QĐPT-DS
ngày 09/12/2022 và Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số:
245/2023/QĐPT-DS ngày 09/01/2023 gi a các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Minh T, sinh năm 1951
Địa chỉ: 30 Q, Phường E, quận R, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn: Chi c c Thi hành án dân sự quận B
Địa chỉ: 320/21 Y, phường O, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đ i diện theo ủy quyền của bị đơn: Bà Vũ Thị D, sinh năm 1981
(Giấy ủy quyền số: 88/UQ-CCTHADS ngày 13/01/2023).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Ngọc T, sinh
năm 1983
Địa chỉ: 98 I, Phường P, quận O, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người kháng cáo: Ông Nguyễn Minh T.
(Ông T có mặt, bà D có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bà T vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn kh i kiện ngày 17/12/2020 và lời khai trong quá trình giải
quyết v án, nguyên đơn là ông Nguyễn Minh T trình bày: Vào ngày 26/4/2018 t i Văn phòng công chứng N, ông T và bà Nguyễn Thị Ngọc T có k hợp đồng mua bán nhà và chuyển nhượng quyền sử d ng đất t i địa chỉ: 587/6 G, phường R, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, thửa đất số MPT 35, tờ bản đồ số 13, diện tích khuôn viên: 113,75m2, hình thức sử d ng riêng: 113,75m2, nhà có diện tích xây dựng: 85,08m2, diện tích sử d ng: 265,24m2, số tầng 3, đã tiến hành trước b . Căn nhà nêu trên có nguồn gốc của bà T mua của Chi c c Thi hành án dân sự quận B thông qua việc mua đấu giá ngày 03/10/2014. Sau khi bà T mua xong thì bà T được chi nhánh Văn phòng đăng k đất đai quận B cập nhật biến động trên giấy chứng nhận vào ngày 11/9/2015. Do giấy chứng nhận quyền s h u nhà và quyền sử d ng đất không còn chỗ cập nhật biến động nên ngày 28/4/2018, ông T có đơn đề nghị cấp đổi giấy chứng nhận nêu trên nhưng yêu cầu của ông bị Chi nhánh Văn phòng đăng k đất đai quận B từ chối vì hiện tr ng nhà, đất khác với hiện tr ng cập nhật hoàn công năm 2009 và hợp đồng chuyển nhượng gi a các bên, yêu cầu ông phải khắc ph c phần diện tích xây dựng khác với Giấy chứng nhận quyền s h u nhà và quyền sử d ng đất số: H 00090 ngày 08/01/2007 hoặc liên hệ Phòng quản l đô thị có kiến cho tồn t i đối với phần diện tích xây dựng thêm trên. Theo ông, Chi c c Thi hành án dân sự quận B đã bán đấu giá nhà không đúng hiện tr ng theo bản vẽ nhà đất số: 1611/VPĐK -2014 ngày 03/10/2014 là lỗi của Chi c c thi hành án dẫn đến việc ông không thể cấp đổi giấy chứng nhận quyền s h u nhà và quyền sử d ng đất được. Ông xác định ông không kh i kiện bà T vì việc mua bán căn nhà nêu trên gi a ông và bà T có công chứng, đã hoàn tất và đúng quy định.
Ông T cho rằng căn cứ vào biên bản kiểm tra công trình xây dựng nhà
587/6 G, phường R, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh số: 0010066/BB-KT ngày 18/02/2020 của Thanh tra S xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh cùng Chi c c Thi hành án dân sự quận B và Phòng quản l đô thị quận B cũng như theo công văn số: 1338/TT-ĐTP ngày 10/3/2020 đã xác định c thể phần diện tích xây dựng tăng thêm. Do đó, ông yêu cầu cơ quan Thi hành án thực hiện bán đấu giá tài sản ghi đúng với hiện tr ng đã được kiểm tra theo văn bản trên.
Nay ông kh i kiện yêu cầu Chi c c Thi hành án dân sự quận B phải chịu
trách nhiệm đối với phần diện tích phát sinh do bán đấu giá sai hiện tr ng căn nhà số 587/6 G, phường R, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cho bà T.
Ngoài ra, ông yêu cầu bà Bùi Ngọc M phải di chuyển ra khỏi căn phòng
7,2m2 cuối nhà 587/6 G, phường R, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn là Chi c c Thi hành án dân sự quận B ủy quyền cho Bà Vũ Thị D
trình bày: Chi c c Thi hành án dân sự quận B đã tổ chức thi hành bản án, quyết định số: 223/2011/QĐST-DS ngày 15/8/2011 của Tòa án nhân dân quận B. Chi c c Thi hành án dân sự quận B có quyết định thi hành án số: 03/QĐ-THA ngày 03/10/2011 về việc bà Bùi Ngọc M phải trả cho bà Hoàng Thiên H số tiền 1.000.000.000 đồng, 04 lượng vàng SJC và lãi chậm thi hành án. Quá trình tổ chức thi hành án, bà Bùi Ngọc M không tự nguyện thi hành án. Ngày
15/02/2012, Chi c c Thi hành án dân sự quận B đã ban hành quyết định cưỡng
chế kê biên tài sản số: 31/QĐ-CCTHA để kê biên nhà đất số 587/6 G, phường
R, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 24/02/2012, Chi c c Thi hành án
dân sự quận B kê biên tài sản nhà đất nêu trên. Ngày 03/10/2014, Chi c c Thi
hành án dân sự quận B đã bán đấu giá thành tài sản nêu trên. Người mua trúng
đấu giá là bà Nguyễn Thị Ngọc T. Hồ sơ bán đấu giá gồm các căn cứ pháp l
sau:
Giấy chứng nhận quyền s h u nhà và quyền sử d ng đất số: H 00090
do Ủy ban nhân dân quận B cấp ngày 08/01/2007, đăng ký thay đổi lần cuối
ngày 04/5/2009.
Bản vẽ hiện tr ng nhà do Công ty TNHH khảo sát thiết kế A đo vẽ ngày
14/11/2003 được Phòng Tài nguyên và Môi trường quận B xác nhận ngày
28/11/2003.
Quyết định số: 223/2011/QĐST-DS ngày 15/8/2011 của Tòa án nhân dân
quận B.
Quyết định thi hành án số: 03/QĐ-THA ngày 03/10/2011 của Chi c c Thi
hành án dân sự quận B.
Quyết định cưỡng chế kê biên tài sản số: 31/QĐ-CCTHA ngày
15/02/2012 của Chi c c Thi hành án dân sự quận B.
Biên bản kê biên, xử l tài sản ngày 24/02/2012 của Chi c c Thi hành án
dân sự quận B.
Việc thi hành án, thực hiện kê biên, bán đấu giá tài sản nêu trên là đúng
theo quy định pháp luật. Việc ông Nguyễn Minh T mua l i tài sản từ bà T là
người mua trúng đấu giá là không liên quan đến việc thi hành án. Bản vẽ nhà
đất số: 1611/VPĐK -2014 ngày 03/10/2014 không nằm trong hồ sơ bán đấu giá
căn nhà 587/6 G, phường R, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Do vậy, đối với yêu cầu kh i kiện của nguyên đơn, bị đơn không đồng .
Người có quyền lợi, nghĩa v liên quan là bà Nguyễn Thị Ngọc T đã được
Tòa án thông báo th l v án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp,
tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và tham gia phiên tòa nhưng bà T
vắng mặt không có l do, không đến Tòa án trình bày kiến.
T i Bản án dân sự sơ thẩm số: 342/2022/DS-ST ngày 23/9/2022 của Tòa
án nhân dân quận B, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
1.Không chấp nhận yêu cầu kh i kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Minh
T.
2. Về án phí sơ thẩm: Miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm cho ông Nguyễn
Minh T.
Ngoài ra bản án còn tuyên về quyền kháng cáo.
Ngày 07/10/2022, nguyên đơn là ông T kháng cáo toàn bộ nội dung bản
án dân sự sơ thẩm.
T i phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn ông T trình bày: Ông gi nguyên yêu cầu kh i kiện, gi
nguyên đơn kháng cáo đối với bản án dân sự sơ thẩm số: 342/2022/DS-ST ngày 23/9/2022 của Tòa án nhân dân quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông đề nghị cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm l do: Ông không đồng về việc Chi c c Thi hành án dân sự quận B đã bán đấu giá đúng quy định của pháp luật nhà và đất số 587/6 G, phường R, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. B i vì nếu Chi c c thi hành án thực hiện đúng thì cả ông và bà T đã được cấp đổi giấy chứng nhận quyền s h u nhà và quyền sử d ng đất . Trước khi cập nhật sang tên cho bà T ngày 11/9/2015 thì Phòng Tài nguyên và Môi trường quận B đã có công văn số: 2592 ngày 25/4/2015 từ chối cấp đổi giấy chứng nhận gửi tới tổ cấp giấy chứng nhận thuộc Chi nhánh Văn phòng đăng k đất đai quận B ngăn chặn việc cấp đổi giấy chứng nhận cho bà T. Văn phòng đăng k đất đai quận B đã cập nhật sang tên cho bà T là né sơ đồ nhà đất số:1611/VPĐK/2014 ngày 03/10/2014. Việc làm này của Chi nhánh Văn phòng đăng k đất đai quận B là l m d ng quyền h n khi thi hành công v , vi ph m pháp luật vì lúc này giấy chứng nhận không còn chỗ để cập nhật. Do vậy, ông đề nghị Chi c c thi hành án dân sự quận B phải chịu trách nhiệm do bán đấu giá nhà đất không đúng hiện tr ng và có văn bản gửi Chi nhánh Văn phòng đăng k đất đai quận B để ông được cấp đổi giấy chứng nhận quyền s h u nhà và quyền sử d ng đất theo bản vẽ nhà đất số: 1611/VPĐK/2014 ngày 03/10/2014. Ông xác định gi a ông và bà Bùi Ngọc M đã giải quyết xong nên ông không yêu cầu Tòa án giải quyết về việc buộc bà M phải di chuyển ra khỏi căn phòng 7,2m2 cuối nhà 587/6 G, phường R, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn Chi c c Thi hành án dân sự quận B ủy quyền cho Bà Vũ Thị D có
đơn đề nghị xét xử vắng mặt và gửi văn bản trình bày: Chi c c Thi hành án dân sự quận B bán đấu giá căn nhà số: 587/6 G, phường R, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cho bà T là đúng quy định của pháp luật. Việc ông T mua l i tài sản từ người mua trúng đấu giá là không liên quan đến việc thi hành án.
Người có quyền lợi, nghĩa v liên quan là bà T vắng mặt không có l do.
Đ i diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu, đề
nghị:
Từ khi th l v án cho đến khi có quyết định đưa v án ra xét xử, Thẩm
phán thực hiện đúng theo quy định của pháp luật và t i phiên tòa, Hội đồng xét xử thực hiện đúng theo trình tự tố t ng Bộ luật Tố t ng dân sự năm 2015 quy định. T i phiên tòa các đương sự chấp hành đúng theo quy định pháp luật.
Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ v án và
lời trình bày của đương sự xét thấy: Ngày 03/10/2014 , bà T là người trực tiếp giao dịch, mua bán tài sản đấu giá với Chi c c Thi hành án dân sự quận B. Ngày 11/9/2015, bà T đã được Chi nhánh Văn phòng đăng k đất đai quận B cập nhật sang tên theo quy định. Ngày 26/4/2018 bà T chuyển nhượng l i nhà đất số 587/6 G, phường R, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cho ông T. Nay ông T kh i kiện yêu cầu Chi c c Thi hành án dân sự quận B phải bán đấu giá
nhà đất cho bà T đúng với bản vẽ nhà đất số:1611/VPĐK/2014 ngày
03/10/2014 là không có cơ s . Đối với yêu cầu của ông T yêu cầu Tòa án buộc
bà M di chuyển ra khỏi căn phòng 7,2m2 cuối nhà 587/6 G, phường R, quận
B, Thành phố Hồ Chí Minh. T i phiên tòa phúc thẩm, ông T trình bày đã giải
quyết xong với bà M nên không xem xét, giải quyết.
Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố
t ng dân sự năm 2015, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn,
gi nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 342/2022/DS-ST ngày 23/9/2022 của
Tòa án nhân dân quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ v án được thẩm tra t i
phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh t ng, tranh luận t i phiên tòa, kiến phát
biểu của Viện Kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
Về hình thức và thời h n kháng cáo: Đơn kháng cáo ngày 07/10/2022
của nguyên đơn ông Nguyễn Minh T còn trong h n luật định theo quy định t i
khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố t ng dân sự năm 2015 nên hợp lệ.
Về sự vắng mặt của các đương sự: Bà Vũ Thị D là người đ i diện
theo ủy quyền của bị đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, bà Nguyễn
Thị Ngọc T là người có quyền lợi, nghĩa v liên quan đã được Tòa án triệu tập
hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không l do. Căn cứ vào khoản 2 Điều 296
Bộ luật Tố t ng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương
sự theo quy định.
Về nội dung:
[ 3.1] Nguyên đơn là ông T kháng cáo toàn bộ nội dung bản án dân sự sơ
thẩm, đề nghị cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu kh i kiện
của ông. Lý do kháng cáo ông T cho rằng Chi c c Thi hành án quận B bán đấu
giá không đúng hiện tr ng thực tế của tài sản đấu giá là căn nhà số 587/6 G,
phường R, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh b i vì nếu bán đúng quy định thì
ông và bà T phải được cấp đổi giấy chứng nhận quyền s h u nhà và quyền
sử d ng đất . Ông yêu cầu Chi c c Thi hành án quận B phải có văn bản gửi
Chi nhánh Văn phòng đăng k đất đai để ông được cấp đổi giấy chứng nhận.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ v án và lời trình bày
của đương sự, xét thấy: Nguồn gốc căn nhà số 587/6 G, phường R, quận B,
Thành phố Hồ Chí Minh của bà Bùi Ngọc M theo giấy chứng nhận quyền s
h u nhà và quyền sử d ng đất số: H 00090 do Ủy ban nhân dân quận B cấp
ngày 08/01/2007, đăng k thay đổi lần cuối ngày 04/5/2009.
Chi c c Thi hành án quận B đã tiến hành các thủ t c kê biên, bán đấu giá
thành tài sản căn nhà số 587/6 G, phường R, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người mua trúng đấu giá là bà Nguyễn Thị Ngọc T.
Ngày 03/10/2014 các bên gồm: Tổ chức bán đấu giá: Công ty TNHH
Dịch v Đấu giá V, người có tài sản bán đấu giá: Chi c c Thi hành án dân sự
quận B, người mua được tài sản: Bà Nguyễn Thị Ngọc T đã k hợp đồng mua bán tài sản bán đấu giá. Tài sản bán đấu giá là quyền s h u nhà và quyền sử d ng đất căn nhà số 587/6 G, phường R, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Hồ sơ bán đấu giá tài sản gồm các căn cứ pháp l sau: Giấy chứng nhận
quyền s h u nhà và quyền sử d ng đất số: H 00090 do Ủy ban nhân dân quận B cấp ngày 08/01/2007, đăng k thay đổi lần cuối ngày 04/5/2009. Bản vẽ hiện tr ng nhà do Công ty TNHH khảo sát thiết kế A đo vẽ ngày 14/11/2003 được Phòng TNMT quận B xác nhận ngày 28/11/2003. Quyết định số: 223/2011/QĐST-DS ngày 15/8/2011 của Tòa án nhân dân quận B. Quyết định thi hành án số: 03/QĐ-THA ngày 03/10/2011 của Chi c c Thi hành án dân sự quận B. Quyết định cưỡng chế kê biên tài sản số: 31/QĐ-CCTHA ngày 15/02/2012 của Chi c c Thi hành án dân sự quận B. Biên bản kê biên, xử l tài sản ngày 24/02/2012 của Chi c c Thi hành án dân sự quận B.
Ngày 16/12/2014, t i địa chỉ: 587/6 G, phường R, quận B, Thành phố Hồ
Chí Minh, Chi c c Thi hành án quận B đã lập biên bản giao nhận nhà, đất gi a bà M và bà T theo đúng hiện tr ng thực tế và các đương sự không có kiến gì.
Ngày 11/9/2015, Chi nhánh Văn phòng đăng k đất đai quận B đã cập
nhật sang tên cho bà T trên giấy chứng nhận quyền s h u nhà và quyền sử d ng đất nêu trên.
Sau đó, vào ngày 26/4/2018 t i Văn phòng công chứng N, ông T và bà T
k hợp đồng mua bán nhà và chuyển nhượng quyền sử d ng đất t i địa chỉ: 587/6 G, phường R, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, thửa đất số MPT 35, tờ bản đồ số 13, diện tích khuôn viên:113,75m2, hình thức sử d ng riêng: 113,75m2, nhà có diện tích xây dựng: 85,08m2, diện tích sử d ng: 265,24m2, số tầng 3, đã trước b . Do giấy chứng nhận không còn chỗ để cập nhật nên ông T đã làm thủ t c cấp đổi giấy chứng nhận. Theo công văn số: 2208/CNTP-ĐK& CGCN ngày 04/6/2018 của Chi nhánh văn phòng đăng k đất đai quận B đã trả lời ông T có nội dung: Qua đối chiếu với bản vẽ hoàn công ngày 23/10/2008 do Công ty TNHH V với bản vẽ hiện tr ng, Chi nhánh Văn phòng đăng k đất đai nhận thấy hiện tr ng nhà đã thay đổi, hiện tr ng nhà đất khác với hiện tr ng cập nhật hoàn công năm 2009 và hợp đồng chuyển nhượng, đề nghị ông T:
Khôi ph c phần diện tích xây dựng khác với giấy chứng nhận số:
H00090, sau đó liên hệ UBND phường R xác nhận nội dung đã khôi ph c và lập l i bản vẽ hiện tr ng theo đúng hiện tr ng thực tế (đã khôi ph c).
Hoặc liên hệ Phòng quản l đô thị có kiến cho tồn t i đối với nhà trên
trước khi nộp l i hồ sơ.
Xét thấy, giao dịch mua bán tài sản đấu giá gi a Chi c c Thi hành án dân
sự quận B và bà T đã hoàn tất, đúng quy định pháp luật theo quy định t i các Điều 35, 36, 46 Nghị định số 17/2010/NĐ-CP ngày 04/3/2010 của Chính phủ quy định về bán đấu giá tài sản và quy định t i các Điều 101, 106 Luật Thi hành án dân sự năm 2008. Bà T là người mua tài sản đấu giá đã được cập nhật sang tên theo quy định. Sau đó bà T đã chuyển nhượng l i nhà, đất cho ông T theo đúng diện tích ghi trên giấy chứng nhận.
Mặt khác, ông T không phải là người trực tiếp giao dịch, mua bán tài sản
đấu giá với Chi c c Thi hành án dân sự quận B. Đối với việc cấp đổi giấy
chứng nhận quyền s h u nhà và quyền sử d ng đất nêu trên, phía ông T
đã được Cơ quan nhà nước có thẩm quyền hướng dẫn để thực hiện theo quy
định. Tuy nhiên, ông T không thực hiện theo hướng dẫn mà kh i kiện yêu cầu
Chi c c Thi hành án dân sự quận B phải bán đấu giá tài sản đúng hiện tr ng
như bản vẽ nhà đất số: 1611/VPĐK/2014 ngày 03/10/2014 cho bà T là không
có cơ s . Do đó, cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu kh i kiện của ông T là
có cơ s .
Đối với yêu cầu của ông T buộc bà M phải di chuyển ra khỏi căn
phòng 7,2m2 cuối nhà 587/6 G, phường R, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
T i phiên tòa phúc thẩm, ông T trình bày gi a ông và bà M đã giải quyết xong
nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Từ nh ng phân tích và viện dẫn pháp luật nêu trên, xét thấy yêu cầu
kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Minh T là không có cơ s chấp nhận.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố t ng dân sự năm 2015, Hội đồng
xét xử gi nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 342/2022/DS-ST ngày 23/9/2022
của Tòa án nhân dân quận B theo đề nghị của đ i diện Viện Kiểm sát nhân dân
Thành phố Hồ Chí Minh là có cơ s .
Về án phí:
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn là ông T thuộc trường hợp người
cao tuổi được miễn tiền án phí sơ thẩm.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông T được miễn tiền án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 148, khoản 1 Điều 308 và Điều 313 của Bộ luật Tố t ng
dân sự năm 2015; Căn cứ vào các Điều 35, 36, 46 của Nghị định số:
17/2010/NĐ-CP ngày 04/3/2010 của Chính phủ quy định về bán đấu giá tài
sản; Căn cứ vào Điều 101, 106 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008; Căn cứ
vào điểm đ, khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường v Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản l và sử d ng án phí và lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Minh T.
Gi nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 342/2022/DS-ST ngày 23/9/2022
của Tòa án nhân dân quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tuyên xử:
1.Không chấp nhận yêu cầu kh i kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Minh T.
2.Về án phí:
-Án phí dân sự sơ thẩm:Ông Nguyễn Minh T được miễn tiền án phí dân
sự sơ thẩm.
- Án phí dân sự phúc thẩm:Ông Nguyễn Minh T được miễn tiền án phí
phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND Tối cao; - TAND Cấp cao t i TP.HCM; - VKSND Cấp cao t i TP.HCM; - VKSND TP.HCM; - C c THADS TP.HCM; - TAND quận B; - Chi c c THADS quận B; - Các đương sự; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Lan Hương |