- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Công D1 và Phan Quốc V phạm tội “Cướp giật tài sản”. - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Công D1 và Phan Quốc V phạm tội “Cướp giật tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 171 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 131/2022/HSST Ngày: 14/7/2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Huỳnh Hoàng Phương;
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Phan Trọng Bình – giáo viên trường trung học cơ sở Đặng Trần Côn, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh;
2/ Ông Lê Ngọc Thanh – cán bộ Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh;
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Tường Vi là Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh;
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: ông Khổng Sơn Tùng là Kiểm sát viên;
Hôm nay, ngày 14 tháng 7 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 62/2022/HSST ngày 24 tháng 6 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 179/2022/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 7 năm 2022 đối với các bị cáo:
1/ Họ và tên: NGUYỄN CÔNG D1; Giới tính: Nam; Sinh năm: 29/3/2005 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 11/12; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 181/3 D, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: Như trên; Nghề nghiệp: Học sinh Trung tâm giáo dục nghề nghiệp – giáo dục thường xuyên quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Con ông (không rõ) và bà Nguyễn Vũ Thùy T1, sinh năm 1970; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/01/2022;
2/ Họ và tên: PHAN QUỐC V; Giới tính: Nam; Sinh năm: 14/02/2004 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 46/9 T, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: 281/19/17 T, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Học sinh Trung tâm giáo dục nghề nghiệp – giáo dục thường xuyên quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Con ông Phan Văn D2, sinh năm 1971 và bà Lai Thị Minh T2, sinh năm 1970; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/01/2022;
(các bị cáo có mặt tại phiên tòa)
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Công D1 là bà Nguyễn Vũ Thùy T1, sinh năm 1970 ngụ tại 181/3 D, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh;
(có mặt tại phiên tòa)
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Phan Quốc V là bà Lai Thị Minh T2, sinh năm 1970 ngụ tại 281/19/17 T, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh;
(có mặt tại phiên tòa)
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Công D1 là Luật sư Chung Ngọc T3 thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tại Thành phố Hồ Chí Minh;
(có mặt tại phiên tòa)
- Người bào chữa cho bị cáo Phan Quốc V là Luật sư Trần Vân L thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tại Thành phố Hồ Chí Minh;
(có mặt tại phiên tòa)
- Bị hại:
Em Tạ Thanh Hùng N, sinh năm 2005 ngụ tại 36 ấp K, xã T, huyện C, tỉnh Long An;
Người đại diện hợp pháp của người bị hại là ông Tạ Thanh H, sinh năm 1978 (cha ruột) ngụ tại 36 ấp K, xã T, huyện C, tỉnh Long An;
(ông H và em N vắng mặt tại phiên tòa)
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1/ Ông Phan Văn D2, sinh năm 1971 ngụ tại 281/19/17 T, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh;
2/ Bà Nguyễn Vũ Thùy T1, sinh năm 1970 ngụ tại 181/3 D, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh;
(ông D2 vắng mặt, bà T1 có mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 20 phút ngày 23/01/2022, Nguyễn Công D1 điều khiển xe gắn máy hiệu Honda Vision, màu xanh, biển số 59D3-13885 chở Phan Quốc V ngồi sau. Khi đến trước nhà số 309 N, phường P, quận T thì V nhìn thấy em Tạ Thanh Hùng N, tay trái đang cầm một điện thoại di động Iphone 11 màu xanh, loại 64Gb đang dừng xe đợi đèn đỏ. Thấy vậy, V rủ D1 áp sát em N để V giật điện thoại, D1 đồng ý và điều khiển xe gắn máy chạy từ phía sau lên áp sát bên trái em N để V ngồi sau dùng tay phải giật điện thoại của em N, sau đó, cả hai tăng ga bỏ chạy về hướng đường P. Lúc này, em N truy hô và dùng xe gắn máy đuổi theo. D1 và V bỏ chạy đến trước nhà số 405 T, phường T, quận T thì D1 bị quần chúng nhân dân bắt giữ, còn V nhảy xuống xe, tay phải vẫn cầm điện thoại Iphone 11 cướp giật được, tiếp tục chạy bộ trên đường T để tẩu thoát. Khi chạy đến trước nhà số 272 T, phường P, quận T thì V vứt điện thoại Iphone 11 lại. Sau đó, V tiếp tục bỏ chạy đến trước nhà số 313 L, phường P, quận T thì bị quần chúng nhân dân bắt giữ giao cho Công an phường Phú Thạnh xử lý.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Tân Phú, Nguyễn Công D1 và Phan Quốc V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.
Theo kết luận định giá số 449/KL-HĐĐGTS ngày 05/4/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Tân Phú, thời điểm định giá ngày 23/01/2022, kết luận: một điện thoại di động hiệu Iphone 11 màu xanh 64Gb, trị giá 11.500.000 đồng.
* Vật chứng thu giữ:
- Một (01) điện thoại di động hiệu Iphone 11 màu xanh 64Gb, là tài sản bị cướp giật trong vụ án, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Tân Phú đã trả cho em Tạ Thanh Hùng N.
- Một (01) điện thoại di động hiệu Realme màu xanh có số IMEI 1: 860750042945492, số IMEI 2: 860750042945484. Qua làm việc, xác định được điện thoại di động trên của ông Phan Văn D2 (cha ruột của V), vào ngày 23/01/2022, ông D2 có cho V để sử dụng, liên lạc cá nhân;
- Một (01) điện thoại di động hiệu Samsung A71 màu xanh có số IMEI 1: 353408110379078/01, số IMEI 2: 353409110379076/01, bị bể góc phải màn hình. Qua làm việc, xác định điện thoại di động trên của bà Nguyễn Vũ Thùy T1 (mẹ ruột của D1) mua và giao cho D1 quản lý và dùng để sử dụng, liên lạc cá nhân;
- Một (01) xe gắn máy hiệu Honda Vision màu xanh biển số: 59D3-138.85, số máy: JK03E5323760, số khung: RLHJK0315MZ117514. Theo kết luận giám định số 6565/KLGĐ-X(DD4), ngày 12/5/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận số máy, số khung không thay đổi. Qua xác minh, xác định xe gắn máy nêu trên do bà Nguyễn Vũ Thuỳ T1 (mẹ ruột của D1) là chủ sở hữu, ngày 23/01/2022, bà T1 có cho D1 mượn xe để đi lại, việc D1 sử dụng xe trên để cướp giật tài sản, bà T1 không biết.
Toàn bộ số vật chứng trên được nhập kho theo phiếu nhập kho vật chứng số 49/PNK ngày 30/5/2022.
* Về phần dân sự: Em Tạ Thanh Hùng N đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm.
Tại phiên tòa, các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội và khai nhận như bản cáo trạng đã nêu.
Bản cáo trạng số 61/CT-VKSQTP ngày 22 tháng 6 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố các bị cáo Nguyễn Công D1 và Phan Quốc V về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d Khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh giữ quyền công tố luận tội và tranh luận:
Căn cứ lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay cũng như xem xét các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo Nguyễn Công D1 và Phan Quốc V về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d Khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điểm h, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 90; Điều 91 và Khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt mỗi bị cáo mức án từ 02 (hai) năm 03 (ba) tháng đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách của mỗi bị cáo từ 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng đến 05 (năm) năm; đồng thời đề nghị xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.
Những người bào chữa cho các bị cáo Nguyễn Công D1, Phan Quốc V là các luật sư Chung Ngọc T3, Trần Vân L thống nhất với lời trình bày của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: các bị cáo có tuổi đời còn trẻ, phạm tội nhưng chưa gây ra thiệt hại, các bị cáo hiện đang còn đi học để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo và cho các bị cáo được hưởng án treo để có cơ hội làm lại cuộc đời;
Các bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo hối hận về việc làm của mình, mong Hội đồng xét xử xét xử cho bị cáo một mức án nhẹ để có cơ hội sửa sai và làm lại cuộc đời.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người đại diện hợp pháp của các bị cáo, người đại diện hợp pháp cho các bị cáo, người bào chữa cho các bị cáo, bị hại và người đại diện hợp pháp của người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận tội của các bị cáo là phù hợp với bản kết luận điều tra của cơ quan cảnh sát điều tra, bản cáo trạng của Viện kiểm sát, lời khai của người làm chứng cùng tang vật, các tài liệu chứng cứ khác thu được trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy đủ cơ sở kết luận: Khoảng 18 giờ 20 phút ngày 23/01/2022, Nguyễn Công D1 điều khiển xe gắn máy hiệu Honda Vision, màu xanh, biển số 59D3-13885 chở theo Phan Quốc V đã có hành vi cướp giật một (01) điện thoại di động hiệu Iphone 11 màu xanh, 64Gb, trị giá 11.500.000 (mười một triệu năm trăm ngàn) đồng của em Tạ Thanh Hùng N tại trước nhà số 309 N, phường P, quận T thì bị bắt, hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội “Cướp giật tài sản”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm d Khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, nó vừa trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu, quản lý tài sản hợp pháp của công dân được Nhà nước và pháp luật bảo hộ, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Tuy bị cáo chưa thành niên nhưng đủ khả năng nhận thức được hành vi cướp giật tài sản của người khác bị pháp luật ngăn cấm và bị trừng trị nhưng do động cơ tham lam, muốn có tiền tiêu xài nên các bị cáo đã cố tình thực hiện tội phạm một cách liều lĩnh, bất chấp sự trừng trị của pháp luật do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết có một hình phạt nhằm mục đích giáo dục, cải tạo các bị cáo đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có;
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản chiếm đoạt đã thu hồi trả cho người bị thiệt hại nên không gây ra thiệt hại; đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), ngoài ra các bị cáo có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội, tài sản đã thu hồi trả cho người bị hại nên chưa gây ra thiệt hại nên đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo;
Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội, thời gian tạm giữ, tạm giam cũng gần 06 tháng, các bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi; hiện các bị cáo đang là học sinh lớp 10, 11 Trung tâm giáo dục nghề nghiệp – giáo dục thường xuyên quận Tân Phú, các bị cáo nhất thời phạm tội, mẹ ruột của bị cáo V bị bệnh ung thư giai đoạn cuối, gia đình có hoàn cảnh khó khăn do đó nghĩ không cần thiết tiếp tục tạm giam các bị cáo mà cần tạo điểu kiện cho các bị cáo tiếp tục đến trường để học tập, rèn luyện bản thân để trở thành công dân có ích cho xã hội, có cơ hội làm việc giúp đỡ gia đình. Hội đồng xét xử quyết định áp dụng các Điều 90, Điều 91, Khoản 1 Điều 101 và Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) cho các bị cáo được hưởng án treo có ấn định thời gian thử thách cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo các bị cáo đồng thời thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước đối với người phạm tội;
Do các bị cáo hiện đang bị tạm giam nên Hội đồng xét xử quyết định căn cứ Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự trả tự do cho bị cáo ngay tại phiên tòa nếu các bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác;
Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào Khoản 5 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì lẽ ra các bị cáo còn có thể bị phạt một khoản tiền bổ sung. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo hiện không có nghề nghiệp ổn định, phạm tội lần đầu nên miễn cho các bị cáo;
Về trách nhiệm dân sự: Em Tạ Thanh Hùng N đã nhận lại tài sản, không có bất kỳ yêu cầu nào khác nên Hội đồng xét xử không có gì để giải quyết.
Về xử lý vật chứng:
Đối với một (01) điện thoại di động hiệu Realme màu xanh thu giữ của Phan Quốc V và một (01) điện thoại di động hiệu Samsung A71 màu xanh thu giữ của Nguyễn Công D1. Qua làm việc, xác định điện thoại di động trên của ông Phan Văn D2 và bà Nguyễn Vũ Thùy T1 (cha ruột bị cáo Phan Quốc V và mẹ ruột của bị cáo Nguyễn Công D1) mua và giao cho các bị cáo quản lý, dùng để sử dụng liên lạc cá nhân. Hội đồng xét xử xét thấy đây là tài sản riêng của các bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho các bị cáo;
Đối với một (01) xe gắn máy hiệu Honda Vision màu xanh biển số: 59D3-138.85, số máy: JK03E5323760, số khung: RLHJK0315MZ117514. Qua xác minh, xác định xe gắn máy nêu trên do bà Nguyễn Vũ Thuỳ T1 (mẹ ruột của D1) là chủ sở hữu, ngày 23/01/2022, bà T1 có cho D1 mượn xe để đi lại, việc D1 sử dụng xe trên để cướp giật tài sản, bà T1 không biết. Hội đồngx ét xử xét thấy chiếc xe trên là tài sản hợp pháp của bà T1 nên trả lại cho bà T1;
(Tình trạng vật chứng theo phiếu nhập kho vật chứng số 49/PNK ngày 30/5/2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh)
Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ nêu trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Công D1 và Phan Quốc V phạm tội “Cướp giật tài sản”.
* Áp dụng điểm d Khoản 2 Điều 171; Điều 17; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 90; Điều 91; Khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
Xử phạt bị cáo:
Nguyễn Công D1 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo.
Thời gian thử thách là 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo có Ủy ban nhân dân phường Tân Quý, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách;
* Áp dụng điểm d Khoản 2 Điều 171; Điều 17; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 90; Điều 91; Khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
Xử phạt bị cáo:
Phan Quốc V 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo.
Thời gian thử thách là 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo có Ủy ban nhân dân phường Tân Sơn Nhì, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách;
Trả tự do cho các bị cáo Nguyễn Công D1, Phan Quốc V ngay tại phiên tòa nếu các bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác;
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017).
* Áp dụng Điều 106; Khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Trả cho bị cáo Phan Quốc V một (01) điện thoại di động hiệu Realme màu xanh;
Trả cho bị cáo Nguyễn Công D1 một (01) điện thoại di động hiệu Samsung A71 màu xanh;
Trả cho bà Nguyễn Vũ Thùy T1 một (01) xe gắn máy hiệu Honda Vision màu xanh biển số: 59D3-138.85, số máy: JK03E5323760, số khung: RLHJK0315MZ117514;
(Tình trạng vật chứng theo phiếu nhập kho vật chứng số 49/PNK ngày 30/5/2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh)
Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án các bị cáo, những người đại diện hợp pháp cho các bị cáo, người bào chữa cho các bị cáo có quyền kháng cáo, bị hại và người đại diện hợp pháp cho bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật;
(Hội đồng xét xử đã giải thích chế định án treo)
| Nơi nhận: - Các bị cáo; - Người đại diện hợp pháp của các bị cáo; - Bị hại; - Người đại diện hợp pháp của bị hại; - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; - Công an quận Tân Phú; - VKSND quận Tân Phú; - Chi cục THADS quận Tân Phú; - TAND TP. Hồ Chí Minh; - Phòng PC27 CATP.HCM; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Huỳnh Hoàng Phƣơng |