vanban.org

Bản án 131/2022/HS-ST — Hình sự

TAND Quận 8, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 15/09/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Hồng Tấn Đ, Trà Khánh D, Phạm Hoàng T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Hồng Tấn Đ 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án. Xử phạt bị cáo Trà Khánh D 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "131. Hồng Tấn Đ và đp 134 - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một s…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Hồng Tấn Đ, Trà Khánh D, Phạm Hoàng T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 131/2022/HS-ST
Ngày 15 - 9 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phúc

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Kính - Cán bộ hưu trí Phường 13, Quận 8.

2. Ông Lý Khải Thông - Hiệu trưởng Trường Tiểu học Âu Dương Lân.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Duy - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 114/2022/TLST-HS ngày 19 tháng 8 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 209/2022/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 8 năm 2022, đối với các bị cáo:

1. Hồng Tấn Đ (tên gọi khác: Xíu Mại); sinh ngày 12/6/2003, tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú (hộ khẩu thường trú: 410/13 HT, Phường N, Quận N, Thành phố HCM; chỗ ở: A22/11K, Tổ BM, Ấp MA, xã BH, huyện BC, Thành phố HCM); nghề nghiệp: Làm công; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn H1 và bà Hồng Thị Bích P1; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại. (có mặt)

2. Trà Khánh D; sinh ngày 19/8/2004, tại Thành phố Hồ Chí Minh (đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 17 tuổi 02 tháng 15 ngày); nơi cư trú: 242/3 PVC, Phường B, Quận S, Thành phố HCM; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con bà Trà Thị Phương T1; cha: Không rõ; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại. (có mặt)

3. Phạm Hoàng T (tên gọi khác: Cu Tin); sinh ngày 24/12/2003, tại Long An (đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 17 tuổi 10 tháng 10 ngày); nơi cư trú: (hộ khẩu thường trú: Khu phố KĐ, thị trấn CG, huyện CG, tỉnh LA; chỗ ở: Tổ C, Khu phố TX, thị trấn CG, huyện CG, tỉnh LA); nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Hoàng S1 và bà Trần Thị Kim V1; tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 11/02/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh ra quyết định khởi tố vụ án; ngày 18/02/2022 ra quyết định khởi tố bị can và tạm giam để điều tra về tội “Cướp tài sản” thực hiện vào ngày 07/01/2022.

Bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/02/2022 đến nay (trong vụ án “Cướp tài sản”). (có mặt)

- Người bào chữa cho các bị cáo Trà Khánh D và Phạm Hoàng T: Bà Lê Thị Ngọc

N1 - Luật sư Văn phòng Luật sư Trịnh Bá Thân, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)

- Bị hại:

1. Anh Nguyễn Hồng P2, sinh năm 2000; nơi cư trú: 119E/11 PTH, Phường H, Quận T, Thành phố HCM. (vắng mặt)

2. Anh Nguyễn Thanh H2, sinh năm 1997; nơi cư trú: (hộ khẩu thường trú: 245/79/59 NT, phường NCT, Quận MT, Thành phố HCM; chỗ ở: 124 PTH, Phường H, Quận T, Thành phố HCM). (vắng mặt)

3. Anh Nguyễn Văn M1, sinh ngày 15/3/2005; nơi cư trú: 380/20 LVL, phường TH, Quận BY, Thành phố HCM. (vắng mặt)

Có người đại diện hợp pháp là bà Nguyễn Thị Kim T2, sinh năm 1973; nơi cư trú: 380/20 LVL, phường TH, Quận BY, Thành phố HCM, là mẹ ruột bị hại M1. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồng Tấn Đ (tên gọi khác là Xíu Mại) cùng Trà Khánh D, Phạm Hoàng T (tên gọi khác là Cu Tin) và Trương Quốc C1 (tên gọi khác là Bảo Em) có mối quan hệ bạn bè quen biết. Vào khoảng 20 giờ ngày 03/11/2021, T cùng Vũ Minh T3 (tên gọi khác là T3 Be) và Huy (không rõ lai lịch) đi uống cà phê tại khu vực vòng xoay TS, huyện BC, Thành phố HCM, thì xảy ra mâu thuẫn với Hồ Ngọc H3 và Nhật “Mini” (không rõ lai lịch). Sau đó, T, T3 và Huy đi về nhà Đ gặp D thì được biết H3 và Nhật “Mini” đã nhắn tin thách thức hẹn đánh nhau.

Khoảng 00 giờ 20 phút, ngày 06/11/2021, trong lúc uống rượu bia tại nhà của Đ, D nhận được tin nhắn thách thức đánh nhau của H3 nên nói cho mọi người biết. Lúc này, T3 rủ D, Đ, T, Huy, C1, Bin Xù, Phú, Hiếu, Đại Thánh (không rõ lai lịch) đi tìm nhóm của H3 để đánh nhau thì tất cả đồng ý, riêng Huy nói có công việc nên không tham gia. Thực hiện ý định, nhóm D lấy hung khí để ở gần nhà Đ rồi chở nhau trên nhiều xe máy đi tìm nhóm của H3. Cụ thể: Phú (không rõ lai lịch) chạy xe máy hiệu Honda Dream biển số 52K3-1170 chở D cầm 01 cây rựa (lưỡi bằng kim loại màu đen); “Bin Xù” (không rõ lai lịch) chở Đ cầm 01 cây đao tự chế (dài khoảng 50cm); “Đại Thánh” (không rõ lai lịch) chở Hiếu (không rõ lai lịch) không cầm hung khí; T3 chở T và C1 cầm dao tự chế dạng mã tấu (dài khoảng 50cm). Khi cả nhóm đến trước quán nước số 124 PTH, Phường H, Quận T (quán của Nguyễn Hồng P2) thì Đ phát hiện anh Nguyễn Văn M1 (là người hay đi chung với nhóm Nhật “Mini”) đang ngồi với bạn là Nguyễn Hồng P2, Nguyễn Thanh H2, Đặng Lâm Văn Bảo nên Đ hô lên báo cho cả nhóm biết. Nghe vậy, C1 xông vào trước dùng dao tự chế chém trúng lưng của anh M1 gây thương tích; D xông đến dùng rựa chém 02 cái vào lưng của anh H2 gây thương tích; Đ dùng đao tự chế chém trúng tay trái của anh P2 gây thương tích; Hiếu và T cầm mã tấu xông vào định chém nhưng anh M1 và những người khác đã bỏ chạy vào nhà nên T quay sang đập phá, ném bàn ghế trong quán. Sau đó, các đối tượng lên xe tẩu thoát và vứt bỏ hung khí (không rõ địa điểm nên không thu hồi được). Bị gây thương tích, anh Nguyễn Thanh H2 đến Công an trình báo, vụ việc được chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8 để điều tra, làm rõ.

Tại kết luận giám định pháp y thương tích số 760/TgT.21 ngày 15/11/2021, Trung tâm Pháp y Thành phố Hồ Chí Minh kết luận thương tích của anh Nguyễn Thanh H2 như sau:

- Các vết xước da nông tại: Vùng lưng trên phải có hai vết kích thước lần lượt là 14x(0,1-0,5)cm và 15x(0,1-0,5)cm; vùng mặt sau ngoài 1/3 trên cánh tay phải kích thước 9x(0,1-0,5)cm, có tỷ lệ 01% mỗi vết.

Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 03%.

Các thương tích trên do vật sắc, vật sắc nhọn hoặc vật có cạnh sắc tác động gây ra, không nguy hiểm đến tính mạng đương sự.

Tại kết luận giám định pháp y thương tích số 761/TgT.21 ngày 15/11/2021, Trung tâm Pháp y Thành phố Hồ Chí Minh kết luận thương tích của anh Nguyễn Văn M1 như sau:

- Một vết xước da đã đóng mày kích thước 4,8x0,1cm vùng lưng trái, tình trạng ổn định. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 01%.

Thương tích trên do vật sắc, vật sắc nhọn hoặc vật có cạnh sắc tác động gây ra, không nguy hiểm đến tính mạng đương sự.

Tại kết luận giám định pháp y thương tích số 762/TgT.21 ngày 15/11/2021, Trung tâm Pháp y Thành phố Hồ Chí Minh kết luận thương tích của anh Nguyễn Hồng P2 như sau:

- Một vết xước da đã đóng mày vùng mặt sau cẳng tay trái kích thước 8,5x(0,1-0,3)cm, ổn định. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 01%.

Thương tích trên do vật sắc, vật sắc nhọn hoặc vật có cạnh sắc tác động gây ra, không nguy hiểm đến tính mạng đương sự.

Quá trình điều tra, anh Nguyễn Hồng P2, anh Nguyễn Thanh H2 và anh Nguyễn Văn M1 yêu cầu xử lý hình sự đối với những người có hành vi gây thương tích, không yêu cầu bồi thường thiệt hại về sức khỏe. Đối với phần thiệt hại về tài sản, anh P2 không yêu cầu xử lý hình sự và cũng không yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Ngày 07/12/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8 ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Hồng Tấn Đ, Trà Khánh D và Phạm Hoàng T về tội “Cố ý gây thương tích”. Tại Cơ quan điều tra, Hồng Tấn Đ, Trà Khánh D và Phạm Hoàng T đã khai nhận toàn bộ hành vi gây thương tích như đã nêu trên. Lời khai của các bị cáo phù hợp nhau và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

- Vật chứng thu giữ: 01 xe gắn máy hiệu Honda Dream, biển số 52K3-1170 do Trà Khánh D giao nộp là phương tiện D sử dụng để đi gây thương tích cho người khác. Qua xác minh, xe này do bà Dương Thị Khả L1 (sinh năm 1954; cư trú tại: 335/97/25 HV, Phường MH, Quận S, Thành phố HCM) đứng tên đăng ký. Vào năm 2004, bà L1 đã bán lại xe cho một người không rõ lai lịch và không làm thủ tục mua bán, sang tên theo quy định pháp luật. Trà Khánh D khai mượn xe này từ một người bạn tên Hùng (không rõ lai lịch).

- Dữ liệu điện tử thu giữ trong vụ án: 01 USB màu đen dung lượng 8GB, bên trong chứa hình ảnh vụ việc nêu trên do anh Nguyễn Thanh H2 giao nộp.

Tại bản Cáo trạng số 106/CT-VKSQ8 ngày 15/8/2022, Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố các bị cáo Hồng Tấn Đ, Trà Khánh D, Phạm Hoàng T về tội “Cố ý gây thương tích”, theo các điểm a, i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8 giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo Hồng Tấn Đ, Trà Khánh D và Phạm Hoàng T về tội “Cố ý gây thương tích”. Sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử như sau:

- Áp dụng các điểm a, i khoản 1 Điều 134; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Hồng Tấn Đ từ 01 năm đến 02 năm tù.

- Áp dụng các điểm a, i khoản 1 Điều 134; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58, Điều 91, Điều 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Trà Khánh D từ 09 tháng đến 15 tháng tù; xử phạt bị cáo Phạm Hoàng T từ 09 tháng đến 15 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: đề nghị tiếp tục tạm giữ và đăng tin trên phương tiện thông tin đại chúng thời hạn 01 năm để tìm chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp của xe máy hiệu Honda Dream biển số 52K3-1170, hết thời hạn trên không tìm được chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp thì tịch thu nộp ngân sách Nhà nước. Tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án 01 USB màu đen dung lượng 08GB, bên trong chứa hình ảnh vụ việc.

Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại không có yêu cầu các bị cáo bồi thường thiệt hại nên không đề cập giải quyết.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận; các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, ăn năn hối cải và xin giảm nhẹ hình phạt.

Người bào chữa cho các bị cáo Trà Khánh D và Phạm Hoàng T trình bày quan điểm bào chữa như sau: Thống nhất với tội danh và điều khoản mà Viện Kiểm sát truy tố đối với các bị cáo Trà Khánh D và Phạm Hoàng T. Tuy nhiên, các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, cần xem xét để được khoan hồng như: Khi phạm tội, các bị cáo là người chưa đủ 18 tuổi nên nhận thức chưa đúng đắn, đầy đủ; các bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, cha mẹ là lao động phổ thông nên thiếu sự quan tâm, quản lý, giáo dục đối với các bị cáo; các bị cáo học hành dang dở và vì nghe lời bạn bè rủ rê, xúi giục mà tụ tập đi đánh nhau gây thương tích; các bị cáo đều có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về lỗi lầm của mình gây ra. Từ đó, đề nghị Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất, khoan hồng nhất cũng đủ sức răn đe và giáo dục đối với các bị cáo Trà Khánh D và Phạm Hoàng T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 8, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; tại các bản tự khai, biên bản ghi lời khai, các bị cáo trình bày lời khai hoàn toàn tự nguyện, không bị ép cung, nhục hình. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, các bị hại Nguyễn Hồng P2, Nguyễn Thanh H2, Nguyễn Văn M1 và người đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Văn M1 là bà Nguyễn Thị Kim T2 (mẹ ruột bị hại) được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt và không yêu cầu Tòa án chỉ định người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại Nguyễn Văn M1. Xét việc các bị hại Nguyễn Hồng P2, Nguyễn Thanh H2, Nguyễn Văn M1 cùng người đại diện hợp pháp của bị hại M1 vắng mặt tại phiên tòa không làm ảnh hưởng đến quyền của các bị hại, không gây trở ngại cho việc xét xử; các bị hại đã có lời khai rõ ràng, đầy đủ trong quá trình điều tra nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận hành vi phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, xác định: Với ý định đi đánh nhau gây thương tích, vào khoảng 00 giờ 50 phút, ngày 06/11/2021, tại quán nước số 124 PTH, Phường H, Quận T, Thành phố HCM, các bị cáo Hồng Tấn Đ, Trà Khánh D và Trương Quốc C1 cùng có hành vi gây thương tích cho các bị hại Nguyễn Hồng P2, Nguyễn Thanh H2 và Nguyễn Văn M1. Trong đó, gây thương tích cho bị hại Nguyễn Hồng P2 với tỉ lệ tổn thương cơ thể là 01%; gây thương tích cho bị hại Nguyễn Thanh H2 với tỉ lệ tổn thương cơ thể là 03% và gây thương tích cho bị hại Nguyễn Văn M1 với tỉ lệ tổn thương cơ thể là 01%.

Mặc dù tỉ lệ tổn thương cơ thể mà các bị cáo gây ra cho các bị hại dưới 11 %, nhưng giữa các bị cáo và các bị hại không có mâu thuẫn từ trước, các bị cáo đã vô cớ dùng đao, rựa, kiếm (loại tự chế) gây thương tích cho các bị hại, thuộc trường hợp “Dùng hung khí nguy hiểm” và thể hiện “có tính chất côn đồ”. Đây là các tình tiết định tội, định khung hình phạt của tội “Cố ý gây thương tích”.

Bị cáo Phạm Hoàng T tuy không trực tiếp gây thương tích cho các bị hại nhưng bị cáo là đồng phạm, tiếp nhận và thống nhất ý chí với các bị cáo khác về việc gây thương tích cho các bị hại, thể hiện qua việc bị cáo T cầm theo hung khí là mã tấu đi cùng các bị cáo khác nhằm tạo sức ép tâm lý cho các bị hại, và cũng là người tiếp nhận, tẩu tán hung khí cho bị cáo Đ sau khi tấn công các bị hại. Do đó, bị cáo T phải chịu trách nhiệm với hậu quả mà các đồng phạm đã gây ra.

Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định về tội “Cố ý gây thương tích” như sau:

“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;

....

i) Có tính chất côn đồ;

...”

Các bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý, đã xâm phạm sức khỏe của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự an toàn tại địa phương. Các bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, cùng cố ý thực hiện hành vi gây thương tích nên phải chịu trách nhiệm chung đối với toàn bộ hậu quả do hành vi cùng gây ra. Như vậy, Hội đồng xét xử có căn cứ xác định hành vi của các bị cáo Hồng Tấn Đ, Trà Khánh D, Phạm Hoàng T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt được quy định tại các điểm a, i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Xét tính nghiêm trọng của tội phạm mà các bị cáo đã thực hiện, cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định bằng hình phạt tù có thời hạn nhằm cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành người có ích, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa phạm tội mới; đồng thời phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm trong xã hội.

Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” là có cơ sở, đúng người, đúng tội. Mức hình phạt Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với các bị cáo là phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội nên có căn cứ chấp nhận. Tuy nhiên, quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo phạm tội lần và đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ hình phạt đối với các bị cáo.

Khi phạm tội, các bị cáo Trà Khánh D và Phạm Hoàng T là người chưa đủ 18 tuổi nên Hội đồng xét xử áp dụng các điều 91, 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xem xét quyết định hình phạt đối với các bị cáo.

Xét các bị cáo phạm tội có tính chất đồng phạm nhưng chỉ mang tính nhất thời, giản đơn. Bị cáo Đ từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Cố ý gây thương tích”, cho thấy bị cáo có nhân thân xấu. Trong vụ án này, bị cáo Đ là người trực tiếp dùng dao gây thương tích cho bị hại P2; bị cáo D là người trực tiếp dùng rựa gây thương tích cho bị hại H2; bị cáo T có vai trò đồng phạm, tiếp nhận và thống nhất ý chí về việc gây thương tích cho các bị hại và tẩu tán hung khí cho bị cáo Đ sau khi tấn công các bị hại. Như vậy, hành vi của các bị cáo Đ và D có mức độ và tính chất nguy hiểm hơn hành vi, vai trò của bị cáo T. Do đó, khi xem xét, quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xem xét quyết định hình phạt phù hợp với tính chất, vai trò của từng bị cáo.

Lời bào chữa của người bào chữa cho các bị cáo Trà Khánh D và Phạm Hoàng T là có cơ sở, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên có căn cứ chấp nhận.

Về xử lý vật chứng: 01 xe máy hiệu Honda Dream, biển số 52K3-1170, Cơ quan điều tra Công an Quận 8 đã đăng báo tìm chủ sở hữu nhưng đến nay chưa có kết quả. Do chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe nên cần tiếp tục đăng tin trên phương tiện thông tin đại chúng tìm chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe trong thời hạn 01 năm, hết thời hạn trên không có người nhận hợp pháp thì tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

- 01 USB màu đen dung lượng 08GB, bên trong chứa hình ảnh vụ việc các bị cáo gây thương tích cho các bị hại, cần tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án.

Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại không yêu cầu các bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với Trương Quốc C1, qua xác minh hiện không có mặt tại nơi cư trú, Cơ quan điều tra đã ra quyết định truy nã, khi nào bắt được sẽ xử lý sau nên Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này.

Đối với Vũ Minh T3, qua tra cứu chưa xác định được đầy đủ thông tin; các đối tượng Huy, Phú, “Bin Xù”, Hiếu, “Đại Thánh” không xác định được lai lịch, Cơ quan điều tra đã tách hành vi của các đối tượng trên và thông báo truy tìm Vũ Minh T3 cùng các đối tượng trên để tiếp tục xử lý khi có căn cứ nên Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ quy định tại các điều 23, 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Hồng Tấn Đ, Trà Khánh D, Phạm Hoàng T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

- Căn cứ vào các điểm a, i khoản 1 Điều 134; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Hồng Tấn Đ 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

- Căn cứ vào các điểm a, i khoản 1 Điều 134; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58, Điều 91, Điều 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Trà Khánh D 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

Xử phạt bị cáo Phạm Hoàng T 11 (mười một) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

- Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; các điều 221, 228 của Bộ luật Dân sự.

Tiếp tục tạm giữ và đăng tin trên phương tiện thông tin đại chúng trong thời hạn 01 năm để tìm chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp của xe gắn máy biển số 52K3-1170, số máy: HA05E-0025112, số khung: WY025116. Hết thời hạn trên không tìm được chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp thì tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

(Tất cả theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, chứng cứ ngày 10/5/2022).

- Căn cứ vào các điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Buộc mỗi bị cáo Hồng Tấn Đ, Trà Khánh D và Phạm Hoàng T nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, tính kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ