- Tranh chấp gì? án hình sự — "nguyễn đức chính - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự:
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN H TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 131/2022/HS-ST Ngày: 20-12-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH BẮC GIANG
-Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Sự
-Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc- Thư ký Toà án nhân dân huyện H, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H tham gia phiên tòa: Ông Lê Đình Duy - Kiểm sát viên.
Trong ngày 20 tháng 12 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục rút gọn vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 137/2022/TLST- HS ngày 06 tháng 12 năm 2022; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 136/2022/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:
1.Họ và tên: Nguyễn Đức Ch, sinh ngày 28/01/2004;
Tên gọi khác: Không;
Nơi cư trú:Thôn Đ, xã V, huyện T, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân Tộc: Kinh; Tôn Giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 10/12; Họ tên bố: Nguyễn Văn Ch, sinh năm 1977; Họ tên mẹ: Nguyễn Thị T, sinh năm 1984; Vợ, con: Chưa có; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/11/2022 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Hiệp Hoà.
(Có mặt tại phiên tòa)
2.2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
-Anh Nguyễn Văn B, sinh năm 2000
( có mặt)
Nơi cư trú: Tổ dân phố T, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bắc Giang
-Anh Phạm Văn T, sinh năm 1976 ( vắng mặt)
Nơi cư trú: thôn Đ, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 12 giờ 40 phút ngày 18/11/2022 tại thôn Ngọc Thành 2, xã Ngọc Sơn, huyện Hiệp Hoà, Tổ công tác Công an huyện Hiệp Hoà phối hợp với Công an xã Ngọc Sơn kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang đối với Nguyễn Đức Ch, sinh ngày 28/01/2004 ở thôn Thôn Đ, xã V, huyện T, tỉnh Bắc Giang đang có hành vi tàng trữ pháo nổ. Vật chứng thu giữ khi bắt quả tang bao gồm: 01 xe mô tô Honda Blade biển kiểm soát 98D1-718.31; 01 bao tơ dứa bên trong đựng 05 khối hộp (nghi là pháo nổ) thu tại vị trí gác ba ga giữa xe mô tô biển kiểm soát 98D1-718.31 (bút lục 31-32). Cơ quan điều tra kiểm tra khối lượng của 05 khối hộp (nghi là pháo), kết quả 5 khối hộp có khối lượng là 7,4 kg.
Về nguồn gốc số pháo trên, Nguyễn Đức Ch khai nhận như sau: Chính làm nhân viên quản lý quán karaoke XMEN CLUB tại thôn Ngọc Thành 2, xã Ngọc Sơn, huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang do ông Phạm Văn T, sinh năm 1976 ở thôn Đ, xã N, huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang làm chủ. Trong quá trình làm việc tại quán, Chính nghe ông Tám nói có pháo hoa nổ để bán nên Chính nảy sinh ý định mua pháo của ông Tám để đốt vào dịp tết. Ngày 17/11/2022, Chính nói với ông Tám muốn mua 05 giàn pháo thì ông Tám đồng ý bán với giá 900.000 đồng/giàn và hẹn Chính buổi sáng ngày 18/11/2022 sang nhà ông Tám ở thôn Đ, xã N, huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang để lấy pháo. Đến khoảng 08 giờ 30 phút ngày 18/11/2022, Chính mượn xe mô tô Honda Blade biển kiểm soát 98D1-718.31 của anh Nguyễn Văn B, sinh năm 2000 ở Tổ dân phố T, thị trấn T, huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang (là nhân viên quán XMEN cùng với Chính) sau đó đi sang nhà ông Tám. Tại sân nhà ông Tám, Chính đưa cho ông Tám số tiền 2.000.000 đồng thì được ông Tám đưa cho 01 bao tải dứa màu xanh bên trong có 03 giàn pháo hoa nổ. Chính hỏi mua thêm 02 giàn pháo nữa nhưng ông Tám không có sẵn ở nhà. Sau đó, Chính chở 03 giàn pháo về cất giấu pháo ở một bụi cây gần quán karaoke XMEN. Đến khoảng 10 giờ cùng ngày, ông Tám ra quán XMEN rủ Chính về nhà ông Tám. Tại đây, ông Tám bảo Chính đưa 2.500.000 đồng để đi lấy thêm 02 giàn pháo và bảo Chính ra cổng nhà văn hoá thôn Đ đứng đợi. Một lúc sau, ông Tám đi ra nhà văn hoá thôn Đ và đưa cho Chính 01 bao tải dứa màu trắng, bên trong đựng 02 giàn pháo hoa nổ. Chính chở 02 giàn pháo về nơi cất giấu pháo ở gần quán XMEN rồi cho 02 giàn pháo vào bao tơ dứa màu xanh chứa 03 giàn pháo trước đó. Chính để bao tải dứa chứa 05 giàn pháo lên gác ba ga xe mô tô rồi chở về nhà cất giấu. Khi đi đến khu vựu cầu Ngọc Thành thuộc thôn Ngọc Thành 2, xã Ngọc Sơn thì bị bắt quả tang.
Căn cứ lời khai của Nguyễn Đức Ch, Cơ quan điều tra đã khám xét nơi ở của Chính, quán karaoke XMEN CLUB và nhà của ông Phạm Văn T nhưng không thu giữ gì.
Tại Kết luận giám định số 2138/KL-KTHS ngày 22/11/2022, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang kết luận: “05 (năm) khối hình hộp, mỗi khối có kích thước (14,5x15,5x15,5)cm bên ngoài mỗi khối có dán giấy hoa văn nhiều màu và chữ nước ngoài, bên trong mỗi khối gồm 36 (ba mươi sáu) hốc hình trụ đều là Pháo hoa nổ, có tổng khối lượng 7,4 kg (bẩy phẩy tư ki lô gam)’’.
*Tại Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 01/CT-VKS -HH ngày 05/12/2022, của Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Bắc Giang truy tố bị cáo Nguyễn Đức Ch về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Nguyễn Đức Ch thành khẩn khai nhận về toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Anh Nguyễn Văn B có mặt trình bày: Anh không biết việc bị cáo Chính mượn xe để đi mua pháo và xin được lấy lại chiếc xe.
* Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Nguyễn Đức Ch và đề nghị:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191, điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 - Bộ luật hình sự;
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức Ch từ 7 tháng tù đến 9 tháng tù về tội “Tàng trữ hàng cấm”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (18/11/2022)
*Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 7.0 kg ( hoàn lại sau giám định) pháo hoa nổ đựng trong 01 bao tải dứa màu xanh ( đã được niêm phong)
Trả lại cho anh Nguyễn Văn B 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Blade, Biển kiểm soát 98D1 - 718.31 là tài sản hợp pháp của anh Bộ.
-Về trách nhiệm dân sự: Không có
-Về hình phạt bổ sung : Miễn hình phạt bổ sung do bị cáo thuộc hộ cận nghèo
Về án phí: Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm
Ngoài ra quyền kháng cáo đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, nội dung vụ án như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Phạm Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng vắng mặt. Tuy nhiên, tại giai đoạn điều tra và truy tố đã có lời khai nên sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Do vậy, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những người trên là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Về tội danh: Lời khai của bị cáo Nguyễn Đức Ch tại phiên tòa hôm nay phù hợp với diễn biến hành vi phạm tội, lời khai của người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu giữ, đã có đủ cơ sở kết luận: Vào hồi 12 giờ 40 phút ngày 18/11/2022 tại thôn Ngọc Thành 2, xã Ngọc Sơn, huyện Hiệp Hoà, Nguyễn Đức Ch, sinh ngày 28/01/2004 ở thôn Thôn Đ, xã V, huyện T, tỉnh Bắc Giang đang có hành vi tàng trữ pháo nổ có khối lượng là 7,4 kg.
Như vậy, đã có đủ căn cứ kết luận bị cáo phạm tội “Tàng trữ hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 - Bộ luật hình sự; Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Bắc Giang truy tố bị cáo Nguyễn Đức Ch theo tội danh và điều khoản trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét về vai trò và tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo thấy:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã đủ tuổi, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo Nguyễn Đức Ch đã có hành vi tàng trữ hàng cấm, xâm phạm trực tiếp đến hoạt động quản lý kinh tế, làm ảnh hưởng đến sự hoạt động bình thường của Nhà nước về pháo và sử dụng pháo, mà Đảng và Nhà nước đã có nhiều hình thức tuyên truyền về tác hại của việc sử dụng pháo nổ, đặc biệt vào dịp tết Nguyên đán đang đến gần. Tuy nhiên, bị cáo vẫn cố ý vi phạm. Xét thấy, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời để giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.
Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo thấy:
Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo Nguyễn Đức Ch đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình, ăn năn hối cải, nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo. Hội đồng xét xử thấy cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi quyết định hình phạt.
Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy:
-Về nhân thân: Bị cáo Nguyễn Đức Ch có nhân thân tốt
-Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Đức Ch không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo thuộc đối tượng hộ cận nghèo nên được miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Không có
Đối với ông Phạm Văn T không thừa nhận việc bán pháo cho Chính. Cơ quan điều tra đã cho ông Tám và Chính đối chất, hai bên giữ nguyên lời khai. Ngoài lời khai của Chính không có tài liệu nào khác nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý đối với ông Phạm Văn T.
Đối với anh Nguyễn Văn B là người cho Chính mượn chiếc xe Honda Blade biển kiểm soát 98D1-718.31 nhưng không biết Chính dùng để đi mua pháo nên anh Bộ không vi phạm pháp luật.
Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 7.0 kg (hoàn lại sau giám định) pháo hoa nổ đựng trong 01 bao tải dứa màu xanh (đã được niêm phong)
Trả lại cho anh Nguyễn Văn B 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Blade, Biển kiểm soát 98D1 - 718.31 là tài sản hợp pháp của anh Bộ.
Về án phí:
Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1- Điều 12; Điều 23 - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm do thuộc đối tượng hộ cận nghèo.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo; người có quyền lợi nghĩa vụ, liên quan có quyền kháng cáo theo Điều 331; khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về trách nhiệm hình sự:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191, điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 - Bộ luật hình sự.
-Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức Ch 07 (bẩy) tháng tù về tội “Tàng trữ hàng cấm”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (18/11/2022)
2.Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo thuộc đối tượng hộ cận nghèo nên được miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
3. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 7.0 kg (hoàn lại sau giám định) pháo hoa nổ đựng trong 01 bao tải dứa màu xanh (đã được niêm phong)
Trả lại cho anh Nguyễn Văn B 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Blade, Biển kiểm soát 98D1 - 718.31 là tài sản hợp pháp của anh Bộ.
4.Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ, khoản 1 Điều 12; Điều 23 - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm do thuộc đối tượng hộ cận nghèo.
5.Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được (hoặc niêm yết) bản án.
6.Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bắc Giang; - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Giang; - VKSND huyện H; - Công an huyện H; - Chi cục THADS huyện H; - Trại tạm giam; - Bị cáo, người tham gia tố tụng khác; - Lưu hồ sơ, văn phòng. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Sự |