- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hồ Thị Kim Yến Nguyễn Tuấn Vũ"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn chị Hồ Thị K.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XL TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 131/2022/HNGĐ-ST Ngày: 23-8-2022 V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XL, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Văn Tiến.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Thanh Minh.
2. Bà Huỳnh Thị Mỹ Trang.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Văn Thiêm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện XL, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện XL, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diến - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện XL xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 306/2022/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 94/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 7 năm 2022 và Quyết định Hoãn phiên tòa số 83/2022/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 7 năm 2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Hồ Thị K, sinh năm: 1996.
Địa chỉ: Ấp T, xã X, huyện XL, tỉnh Đồng Nai.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Tuấn V, sinh năm: 1994.
Địa chỉ: Khu phố x, thị trấn G, huyện XL, tỉnh Đồng Nai.
(Chị Y, anh V vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Hồ Thị K trình bày: Chị và anh Nguyễn Tuấn V tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn năm 2018 tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện XL, tỉnh Đồng Nai. Cuộc sống chung hạnh phúc được một thời gian ngắn, thì nảy sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, anh V bị nghiện ma túy, không chăm lo kinh tế gia đình. Chị đã nhiều lần khuyên anh bỏ những thói hư tật xấu để cùng nhau xây dựng gia đình nhưng anh V không thay đổi. Ngày 25/9/2020 anh V bị bắt đi cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm cai nghiện huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Sau khi chấp hành xong, anh V vẫn bị tái nghiện. Vợ chồng bỏ mặc nhau và không còn quan tâm đến nhau nữa từ tháng 8 năm 2020 đến nay. Nay mâu thuẫn đã trầm trọng, không thể hàn gắn nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Tuấn V.
Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Hoàng T, sinh ngày 10 tháng 9 năm 2018 và cháu Nguyễn Ngọc An N, sinh ngày 29 tháng 4 năm 2020, chị đang trực tiếp nuôi dưỡng các con chung. Sau khi ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng các con chung, không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
* Bị đơn anh Nguyễn Tuấn V đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt và không có lời khai.
* Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện XL tham gia phiên tòa phát biểu: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc thụ lý vụ án, xác định quan hệ pháp luật, tư cách đương sự, thu thập chứng cứ, cấp tống đạt văn bản tố tụng cho đương sự và thời gian gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu trước khi xét xử. Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo quy định tại Điều 51 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chị Hồ Thị K đã chấp hành đúng pháp luật tố tụng dân sự về việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ. Bị đơn anh Nguyễn Tuấn V đã không chấp hành đúng pháp luật tố tụng dân sự về việc thực hiện quyền và nghĩa vụ.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83, 84, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Hồ Thị K. Chị Y được ly hôn với anh V.Về con chung: Giao 02 con chung là cháu Nguyễn Hoàng T, sinh ngày 10/9/2018 và cháu Nguyễn Ngọc An N, sinh ngày 29/4/2020 cho chị Y trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành và có khả năng lao động. Về yêu cầu cấp dưỡng: Chị Y không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét giải quyết.Tài sản chung, nợ chung: Chị Y khai không có, anh V không có lời khai, nên không giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Chị Hồ Thị K có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Tuấn V, yêu cầu nuôi con chung, anh Nguyễn Tuấn V có nơi cư trú tại khu phố X, thị trấn G, huyện XL, tỉnh Đồng Nai nên quan hệ pháp luật là: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện XL, tỉnh Đồng Nai theo quy định tại Điều 28, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về tư cách đương sự: Chị Hồ Thị K có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Tuấn V, yêu cầu nuôi con chung nên xác định chị Y là nguyên đơn, anh V là bị đơn theo quy định tại Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thủ tục tố tụng: Chị Hồ Thị K có đơn xin vắng mặt, anh Nguyễn Tuấn V vắng mặt lần thứ hai không có lý do nên căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị Y, anh V là phù hợp.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Hồ Thị K và anh Nguyễn Tuấn V tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn năm 2018 tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện XL, tỉnh Đồng Nai nên hôn nhân của chị Y, anh V là hợp pháp theo quy định của pháp luật.
Chị Hồ Thị K yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Tuấn V do cuộc sống chung không hạnh phúc, có nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, anh V nghiện ma túy, không chăm lo kinh tế gia đình, chị đã khuyên anh V nhiều lần nhưng anh V không thay đổi. Chị Y và anh V đã không còn chung sống với nhau 02 năm nay. Theo biên bản xác minh ngày 07/7/2022 thì bà Phan Thị Bích T (là mẹ ruột của anh V) cũng xác định anh V và chị Y có nhiều mâu thuẫn, cuộc sống chung không hạnh phúc. Ngoài ra, anh V đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt, không có lời khai, chứng tỏ anh V bỏ mặc, không có thiện chí hòa giải đoàn tụ vợ chồng. Chị Y, anh V đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình làm cho mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Y là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Về con chung: Chị Hồ Thị K yêu cầu được nuôi con chung là cháu Nguyễn Hoàng T, sinh ngày 10 tháng 9 năm 2018 và cháu Nguyễn Ngọc An N, sinh ngày 29 tháng 4 năm 2020. Xét thấy chị Y đang trực tiếp nuôi con, có đủ điều kiện nuôi con, anh V không có ý kiến tranh chấp nuôi con, cháu T và cháu N còn nhỏ cần sự chăm sóc của người mẹ nên giao các con chung cho chị Y trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi và có khả năng lao động là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.
Về việc cấp dưỡng nuôi con: chị Hồ Thị K không yêu cầu anh Nguyễn Tuấn V cấp dưỡng nuôi con nên không giải quyết.
Về tài sản chung: Chị Hồ Thị K khai không có tài sản chung, không yêu cầu giải quyết, anh Nguyễn Tuấn V không có lời khai nên không giải quyết.
Về nợ chung: Chị Hồ Thị K khai không có nợ chung, không yêu cầu giải quyết, anh Nguyễn Tuấn V không có lời khai nên không giải quyết.
Về án phí: Chị Hồ Thị K phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản Điều 28, Điều 35; Điều 39, Điều 68, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 8, Điều 9, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn chị Hồ Thị K.
1. Cho chị Hồ Thị K được ly hôn với anh Nguyễn Tuấn V.
2. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Hoàng T, sinh ngày 10 tháng 9 năm 2018 và cháu Nguyễn Ngọc An N, sinh ngày 29 tháng 4 năm 2020 cho chị Hồ Thị K trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.
Về cấp dưỡng nuôi con: chị Hồ Thị K không yêu cầu giải quyết nên không giải quyết.
Anh Nguyễn Tuấn V được quyền thăm nom, chăm sóc con chung nhưng không gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục con của chị Hồ Thị K.
Khi cần thiết, anh Nguyễn Tuấn V và chị Hồ Thị K được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như việc cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Không giải quyết.
4. Về án phí: Chị Hồ Thị K phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm. Số tiền tạm ứng án phí mà chị Y đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0006333 ngày 29/3/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện XL được chuyển thành tiền án phí. Chị Hồ Thị K đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Chị Hồ Thị K và anh Nguyễn Tuấn V được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Nai; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - VKSND huyện XL; - Chi cục THADS huyện XL; - UBND xã Xuân T; - Các đương sự; - Lưu án văn, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Văn Tiến |