- Tranh chấp gì? án hình sự — "Triệu Xuân P phạm tội tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng - phạm tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đo…"
- Tòa quyết gì? 1/ Áp dụng khoản 1 Điều 304; điểm h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự: xử phạt bị cáo Triệu Xuân P 12 (Mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm về tội: “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 304 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 131/2021/HS- PT Ngày: 21/12/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Khánh Hồng
Các thẩm phán: 1. Ông Đặng Minh Tuân
2. Ông Vương Hồng Giang
- Thư ký phiên toà: Bà Diệp Thu Trang, Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Bà Đinh Thị Thu Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 12 năm 2021 tại Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên xét xử phúc thẩm vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 125/2021/TLPT-HS ngày 27 tháng 10 năm 2021 do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 54/2021/HSST ngày 24/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên.
- Bị cáo có kháng cáo:Triệu Xuân P, tên gọi khác: Không; sinh ngày 13/10/1960; Nơi sinh: Đồng Hỷ, Thái Nguyên; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Xóm SG, xã CT, huyện ĐH, tỉnh Thái Nguyên; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Dao; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 1/10; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Con ông: Triệu Đức A; Con bà: Triệu Thị T; Có vợ là: Triệu Thị T1, có 07 con chung; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam ngày nào, được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 17/3/2021 Công an huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên nhận
được đơn trình báo của anh Đặng Đài B, sinh năm 1970, trú tại xóm CT, xã
CT, Đồng Hỷ, Thái Nguyên trình báo về sự việc : tối ngày 16/3/2021, B bị
Triệu Xuân P, sinh năm 1960, trú tại: xóm SG, xã CT, huyện ĐH, tỉnh Thái
Nguyên dùng 01 khẩu súng dài có ống ngắm chĩa vào người B và có lời đe
dọa. Căn cứ đơn trình báo và lời khai của anh B, Cơ quan Cảnh sát điều tra
Công an huyện Đồng Hỷ đã ra lệnh khám xét khẩn cấp đối với người và chỗ
ở của Triệu Xuân P, thu giữ: Tại tủ gỗ cạnh đầu giường trong buồng ngủ 03
viên đạn dài 5,8cm (Niêm phong bì ký hiệu A1); Tại túi nilon treo phía trên
đầu giường trong buồng ngủ có 30 viên đạn màu vàng được xếp trên 03 khay
kim loại dài 9,1cm, rộng 5cm ; 01 viên đạn dài 3,2cm; 09 viên đạn màu vàng
(Niêm phong bì ký hiệu A2); Tại hộc bản lề trái cửa buồng ngủ hướng từ
ngoài đi vào có 01 vật màu vàng, phần thân hình trụ, phần đầu có dây điện,
dài 08cm; 03 viên đạn màu nâu dài 5,8cm; 09 viên đạn màu vàng; 100 viên
đạn chì (Niêm phong bì ký hiệu A3); Tại lỗ đặt xà mắc màn trong phòng ngủ
09 đoạn kim loại màu bạc hình trụ, dài 7,9cm, nghi là kíp nổ (Niêm phong bì
ký hiệu A4); Tại góc bên phải từ cửa vào trong buồng 01 khẩu súng dài
185cm, phần rộng nhất 12cm, báng gỗ, nòng súng bằng kim loại dài 146cm,
búa đập và cò bằng kim loại (Niêm phong bì ký hiệu A5); Tại gác bếp 01
khẩu súng dài 181cm, chỗ rộng nhất 11cm, nòng súng bằng kim loại dài
145cm, búa đập và cò bằng kim loại (Niêm phong bì ký hiệu A6).
Ngày 19/3/2021 Cơ quan CSĐT Công an huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên ra Quyết định trưng cầu giám định đối với số đồ vật thu giữ tại nơi ở của Triệu Xuân P. Tại các bản kết luận giám định số 2186/C09-P3 và 2188/C09-P2 ngày 19/3/2021 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an kết luận:
- 02 khẩu súng có chiều dài lần lượt là 181cm và 185cm gửi giám định là súng kíp, loại súng này thuộc súng săn, không phải là vũ khí quân dụng. Hiện khẩu súng dài 181cm không còn sử dụng để bắn được.
- 06 viên đạn mỗi viên dài 55mm gửi giám định là đạn cỡ 7,62 x 39mm, loại đạn này thuộc vũ khí quân dụng. Trong đó 03 viên không còn sử dụng để bắn được.
- 30 viên đạn mỗi viên dài 41,5mm gửi giám định là đạn cỡ 7,62 x 33mm, thuộc vũ khí quân dụng, hiện còn sử dụng để bắn được.
- 01 viên đạn dài 32mm gửi giám định là đạn cỡ 7,62 x 25mm, thuộc vũ khí quân dụng, hiện còn sử dụng để bắn được.
-18 viên đạn có vỏ màu vàng, đầu màu xám gửi giám định là đạn cỡ 5,6mm, thuộc vũ khí thể thao, không phải vũ khí quân dụng, hiện còn sử dụng để bắn được.
- 100 viên đạn dạng hình nấm gửi giám định là đạn chì cỡ 4,5mm, thuộc đạn của súng săn, không phải vũ khí quân dụng, hiện còn sử dụng để bắn được.
- Mẫu vật có ký hiệu A3 là ống kim loại màu vàng, bên trong có 01 đoạn dây điện, không phải vật liệu nổ.
- Mẫu vật ký hiệu A4 là kíp nổ chậm vỏ nhôm, thuộc nhóm vật liệu nổ. Kíp nổ có tác dụng kích nổ thuốc nổ. Không đủ điều kiện để xác định số kíp nổ chậm vỏ nhôm này thuộc vật liệu nổ quân dụng hay vật liệu nổ công nghiệp.
Quá trình điều tra xác định hành vi phạm tội của bị cáo như sau:
Khoảng năm 1980 có 01 đơn vị bộ đội (Không xác định được đơn vị cụ thể) đến đóng quân tại khu vực xóm SG, xã CT, huyện ĐH, tỉnh Thái Nguyên và có ở nhờ nhà của Triệu Xuân P, sau khi đơn vị bộ đội này rời đi, P đã nhặt được 07 viên đạn rồi đem cất giấu tại các vị trí trong buồng ngủ của mình. Đến tháng 12 năm 2020, bố P là ông Triệu Đức A chết, P đến dọn nhà thì thấy trong ngăn tủ gỗ phía phải từ ngoài vào có 30 viên đạn màu vàng, P đem số đạn này mang về buồng ngủ của mình cất giấu trong túi nilon treo trên thanh xà mắc màn buồng ngủ. Toàn bộ 37 viên đạn nêu trên P cất giấu từ đó đến đến nay, không có mục đích gì khác. Đến ngày 18/3/2021, Cơ quan điều tra khám xét khẩn cấp nơi ở của P đã thu giữ toàn bộ vật chứng như đã nêu trên.
Vật chứng vụ án gồm: 37 viên đạn, quá trình giám định đã sử dụng hết 34 viên, hiện còn 03 viên đạn mỗi viên dài 5,5cm; 01 ống kim loại màu vàng, bên trong có 01 đoạn dây điện, các vật chứng này hiện đang được bảo quản tại kho của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đồng Hỷ chờ xử lý.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 54/2021/ HSST ngày 24/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên đã quyết định: Tuyên bố bị cáo Triệu Xuân P phạm tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”. Áp dụng khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Triệu Xuân P 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày đi thi hành án
Án sơ thẩm xử xong, ngày 03/10/ 2021 bị cáo Triệu Xuân P kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Ngày 21/10/2021, bị cáo có đơn đề nghị xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo giữ nguyên các nội dung nêu trên.
Trong phần phát biểu quan điểm giải quyết vụ án, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên xác định: bị cáo có nhân thân tốt, là người dân tộc Dao, trình độ văn hóa lớp 1/10, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế khó khăn, lạc hậu, hoàn cảnh kinh tế rất khó khăn, nhận thức pháp luật nhiều hạn chế (theo văn bản đề nghị của UBND xã CT, huyện Đồng Hỷ); bị cáo tàng trữ 37 viên đạn nhưng không có súng và không có mục đích để sử dụng nên hành vi phạm tội của bị cáo chưa gây thiệt hại gì nên bị cáo được hưởng thêm các tình tiết giảm nhẹ theo điểm h khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do vậy, đề nghị hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Triệu Xuân P, sửa bản án sơ thẩm: giữ nguyên mức án và cho bị cáo hưởng án treo.
Bị cáo không tranh luận gì. Trong lời nói sau cùng bị cáo xin được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Triệu Xuân P được làm trong hạn luật định là hợp lệ. Nội dung đơn đề nghị xin được hưởng án treo của bị cáo được xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.
Về nội dung: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa là khách quan, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, vật chứng thu được và các chứng cứ tài liệu khác được thu thập hợp lệ có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã có đủ cơ sở kết luận: Năm 1980 có 01 đơn vị bộ đội đến đóng quân tại khu vực xóm SG, xã CT, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên và có ở nhờ nhà của Triệu Xuân P, sau khi đơn vị bộ đội này rời đi, P đã nhặt được 07 viên đạn rồi đem cất giấu tại các vị trí trong buồng ngủ của mình. Đến tháng 12 năm 2020, bố P là ông Triệu Đức A chết, P đến dọn nhà thì thấy trong ngăn tủ gỗ phía phải từ ngoài vào có 30 viên đạn màu vàng, P đem số đạn này mang về buồng ngủ của mình cất giấu trong túi nilon treo trên thanh xà mắc màn buồng ngủ. Toàn bộ 37 viên đạn nêu trên P cất giấu từ đó đến đến nay, không có mục đích gì khác. Đến ngày 18/3/2021 thì bị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên phát hiện, thu giữ số vật chứng trên.
Với hành vi nêu trên, bản án sơ thẩm đã xử phạt bị cáo Triệu Xuân P về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” theo khoản 1 Điều 304 Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo của bị cáo Triệu Xuân P, Hội đồng xét xử xét thấy: bị cáo có nhân thân tốt, là người dân tộc Dao, trình độ văn hóa lớp 1/10, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế khó khăn, lạc hậu, hoàn cảnh kinh tế rất khó khăn (theo văn bản đề nghị của UBND xã CT, huyện Đồng Hỷ). Do nhận thức pháp luật nhiều hạn chế nên bị cáo tàng trữ 37 viên đạn nhưng không có súng và không có mục đích để sử dụng do vậy hành vi phạm tội của bị cáo chưa gây thiệt hại gì nên bị cáo được hưởng thêm các tình tiết giảm nhẹ tại cấp phúc thẩm theo quy định tại điểm h khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự (những tình tiết này, cấp sơ thẩm chưa xem xét cho bị cáo). Căn cứ hướng dẫn tại Nghị quyết 02/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao về áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự. Xét thấy, bị cáo tuổi đã cao, là người dân tộc thiểu số, trình độ văn hóa thấp, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế khó khăn, lạc hậu. Việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Triệu Xuân P, sửa bản án sơ thẩm: giữ nguyên mức án và cho bị cáo hưởng án treo theo lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa hôm nay là có căn cứ.
Các quyết định khác không bị kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét.
. Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Triệu Xuân P, sửa bản án sơ thẩm số 54/2021/HSST ngày 24/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên.
1/ Áp dụng khoản 1 Điều 304; điểm h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự: xử phạt bị cáo Triệu Xuân P 12 (Mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm về tội: “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”.
Giao bị cáo Triệu Xuân P cho UBND xã CT, huyện ĐH, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2/ Các quyết định của bản án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị đã có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
3/ Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí: bị cáo Triệu Xuân P không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND T. Thái Nguyên; - Sở tư pháp T. Thái Nguyên; - TAND H. Đồng Hỷ; - VKSND H. Đồng Hỷ; - THADS H. Đồng Hỷ; - Công an H. Đồng Hỷ; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Khánh Hồng |