- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị L - Đoàn Văn T"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị L. Xử cho chị Nguyễn Thị L ly hôn anh Đoàn Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 131/2021/HNGĐ-ST Ngày: 22/8/2021 V/v: “Ly hôn; tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Thanh Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Hoàn;
2. Ông Nguyễn Việt Hòa.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Hải Minh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thùy – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 8 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 125/2021/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 6 năm 2021 về Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 126/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 7 năm 2021; Quyết định hoãn phiên tòa số 106/2021/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 8 năm 2021 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1998.
Địa chỉ: huyện N, tỉnh Hải Dương.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Anh Nguyễn Ngọc T2, địa chỉ: thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.
2. Bị đơn: Anh Đoàn Văn T, sinh năm 1992.
Nơi cư trú trước khi xuất cảnh: Xã Đ, huyện N, tỉnh Hải Dương.
Nơi cư trú hiện nay: Đài Loan.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Bùi Thị T1, địa chỉ: Xã Đ, huyện N, tỉnh Hải Dương.
Các đương sự và người làm chứng đều vắng mặt. (Chị L có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện xin ly hôn và bản tự khai cùng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, chị Nguyễn Thị L trình bày: Chị và anh Đoàn Văn T được tự do tìm hiểu và tự nguyện kết hôn vào ngày 25 tháng 11 năm 2016 tại UBND xã Đ, huyện N, tỉnh Hải Dương. Sau khi chung sống với nhau được một thời gian ngắn thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không hòa hợp, bất đồng về quan điểm sống dẫn đến to tiếng, cãi nhau. Sau khi kết hôn được khoảng vài tháng, anh T đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan, còn chị L vì không tìm được tiếng nói chung và mâu thuẫn với gia đình anh T nên đã bỏ về nhà mẹ đẻ từ đó đến nay. Từ khi anh T đi nước ngoài và chị L bỏ về nhà mẹ đẻ, vợ chồng không còn liên lạc với nhau nữa và vợ chồng ly thân từ đó đến nay. Chị L xác định mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn. Do đó, chị L đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn anh T để hai bên ổn định cuộc sống. Chị L không biết được địa chỉ chính xác của anh T do thời điểm anh T đi lao động tại Đài Loan, vợ chồng không còn liên lạc với nhau nữa. Qua các lần liên lạc với với bạn bè anh T, chị L có hỏi địa chỉ của anh T nhưng không ai cho chị L biết nên không thể cung cấp cho Tòa án.
Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân chị L và anh T có 01 con chung là cháu Đoàn Văn T3, sinh ngày 24/3/2016. Hiện nay, cháu T3 đang ở cùng ông bà nội tại Xã Đ, huyện N, tỉnh Hải Dương. Do cháu T3 hiện còn nhỏ và đang ở với ông bà nội nên khi vợ chồng ly hôn, chị L đồng ý để con tiếp tục ở với bố và ông bà nội cho ổn định tâm lý và đồng ý cấp dưỡng tiền nuôi con chung hàng tháng cho đến khi cháu T3 tròn 18 tuổi.
Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp với gia đình: Chị L không đề nghị Tòa án giải quyết.
Tòa án đã tiến hành lấy lời khai của bà Bùi Thị T1 là mẹ đẻ của anh Đoàn Văn T. Tại các biên bản lấy lời khai ngày 18/6/2021 và 05/7/2021, bà T1 trình bày: Anh T và chị L kết hôn khoảng năm 2016 tại UBND xã Đ, huyện N, tỉnh Hải Dương. Hiện nay, anh T đang lao động tại Đài Loan. Anh T đã được bà thông báo các nội dung văn bản tố tụng của Tòa án gửi. Anh T thông tin lại và xác định tình cảm vợ chồng không còn nên anh T đồng ý ly hôn chị L. Về con chung, anh T và chị L có 01 con chung là cháu Đoàn Văn T3, sinh ngày 24/3/2016. Hiện nay, cháu T3 đang ở cùng bà tại Xã Đ, huyện N, tỉnh Hải Dương. Khi ly hôn, anh T đồng ý trực tiếp nuôi dưỡng cháu T3 cho đến khi cháu đủ 18 tuổi trưởng thành. Trong thời gian anh T ở nước ngoài, anh T ủy quyền cho bà thay mặt anh T chăm sóc, nuôi dưỡng cháu T3 và yêu cầu chị L có trách nhiệm cấp dưỡng tiền nuôi con chung theo quy định pháp luật. Do anh T không cung cấp địa chỉ cụ thể ở Đài Loan nên bà không thể cung cấp cho Tòa án.
Theo thông tin do Cục Quản lý xuất nhập cảnh cung cấp tại Công văn số 15430/QLXNC-P5 ngày 12/07/2021 thể hiện: Anh Đoàn Văn T, sinh ngày 17/4/1992 tại Hải Dương, CMND số: xxxxxxxxx, khai hộ khẩu thường trú tại: xã Đ, huyện N, tỉnh Hải Dương; đã sử dụng hộ chiếu số xxxxxxxx do Cục Quản lý xuất nhập cảnh cấp ngày 24/10/2014, để xuất cảnh lần gần nhất ngày 12/4/2017, hiện chưa có thông tin nhập cảnh.
Tại phiên tòa, nguyên đơn và bị đơn đều vắng mặt (Chị L có đơn xin xét xử vắng mặt).
Quan điểm của đại diện VKSND tỉnh Hải Dương: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và nguyên đơn cơ bản đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về quan điểm giải quyết: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ cho thấy mâu thuẫn của chị L và anh T đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện, xử cho chị L được ly hôn anh T; về con chung: giao cháu Đoàn Văn T3, sinh ngày 24/3/2016 cho anh T chăm sóc, nuôi dưỡng. Chấp nhận sự thỏa thuận về cấp dưỡng tiền nuôi con. Buộc chị Nguyễn Thị L phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho anh Đoàn Văn T theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị L có hộ khẩu thường trú tại tỉnh Hải Dương, có đơn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh Đoàn Văn T, là người Việt Nam có hộ khẩu thường trú tại tỉnh Hải Dương, hiện đang sinh sống tại Đài Loan. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 37, Điều 39, Điều 464 BLTTDS, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
Tại phiên tòa, chị L vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh T vắng mặt lần thứ hai, căn cứ Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vụ án theo quy định. Tòa án xác định đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, vì vậy Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo Công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn giải quyết vụ án ly hôn có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị L và anh Đoàn Văn T được tự do tìm hiểu và tự nguyện kết hôn vào ngày 25 tháng 11 năm 2016 tại UBND xã Đ, huyện N, tỉnh Hải Dương. Sau khi chung sống với nhau được một thời gian ngắn; vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không hòa hợp, bất đồng về quan điểm sống dẫn đến to tiếng, cãi nhau. Sau khi kết hôn được khoảng vài tháng, anh T đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan, còn chị L bỏ về nhà mẹ đẻ. Từ đó, vợ chồng không còn liên lạc gì với nhau, không ai quan tâm đến cuộc sống của nhau và ly thân từ đó đến nay. Chị L xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. HĐXX xét thấy, hôn nhân của chị L và anh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, không ai quan tâm đến ai, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận cho chị L ly hôn với anh T là phù hợp quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về quan hệ nuôi con chung: Vợ chồng chị L và anh T có có 01 con chung là cháu Đoàn Văn T3, sinh ngày 24/3/2016. Hiện nay, cháu T3 đang ở cùng ông bà nội tại Xã Đ, huyện N, tỉnh Hải Dương. Chị L có nguyện vọng giao cháu T3 cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng để đảm bảo cuộc sống ổn định của con và đồng ý cấp dưỡng tiền nuôi con chung nếu anh T yêu cầu.
Bà T1 là mẹ đẻ của anh T đang trực tiếp chăm sóc cháu T3 xác định trong thời gian anh T ở nước ngoài, bà T1 sẽ thay anh T trực tiếp nuôi dưỡng cháu T3. Xét thấy, việc giao cháu T3 cho anh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với thực tế nhiều năm nay; phù hợp với nguyện vọng của các đương sự; căn cứ các Điều 58, 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình, HĐXX giao cháu T3 cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng. Trong thời gian anh T ở nước ngoài, bà T1 sẽ thay anh T trực tiếp nuôi dưỡng cháu T3.
Về yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung: Anh T và bà T1 đề nghị Tòa án buộc chị L phải có nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con chung là cháu T3 theo quy định pháp luật. Chị L tự nguyện cấp dưỡng tiền cho con chung mỗi tháng là 1.500.000đ. Xét thấy hiện nay mức lương tối thiểu là 1.490.000đ/tháng, do đó HĐXX xét thấy chị L tự nguyện cấp dưỡng cho con chung mỗi tháng là 1.500.000đ là phù hợp, đảm bảo việc nuôi dưỡng, phát triển bình thường của con chung theo đúng quy định tại Điều 110 và Điều 116 của Luật Hôn nhân và gia đình. Thời gian cấp dưỡng kể từ tháng 08/2021 cho đến khi con đủ 18 tuổi trưởng thành.
Về quan hệ tài sản chung: Chị L và anh T không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xem xét.
Về án phí: Chị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 BLTTDS; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 110, Điều 116 và Điều 117 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm c khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, Điều 464 và Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị L. Xử cho chị Nguyễn Thị L ly hôn anh Đoàn Văn T.
2. Về quan hệ nuôi con chung: Giao cho anh Đoàn Văn T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung là Đoàn Văn T3, sinh ngày 24/3/2016 đến khi đủ 18 tuổi trưởng thành. Tạm giao cháu Đoàn Văn T3 cho bà Bùi Thị T1 (mẹ đẻ anh T) nuôi dưỡng, chăm sóc trong thời gian anh T ở nước ngoài.
Buộc chị Nguyễn Thị L phải có nghĩa vụ cấp dưỡng định kỳ hàng tháng cho con chung là cháu Đoàn Văn T3 với số tiền là 1.500.000đ/tháng. Số tiền trên được giao cho anh Đoàn Văn T thông qua bà Bùi Thị T1 (mẹ đẻ anh T). Thời gian cấp dưỡng kể từ tháng 08/2021 cho đến khi con đủ 18 tuổi trưởng thành.
Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn thi hành án mà người phải thi hành án chưa thi hành thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo quy định tại khoản 2 Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Chị Nguyễn Thị L có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị L phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí sơ thẩm dân sự (Hôn nhân và gia đình) và 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí sơ thẩm cấp dưỡng nuôi con. Đối trừ với 300.000đ (Ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương, theo biên lai thu số AA/2018/0006365 ngày 17/6/2021. Chị L còn phải nộp 300.000đ án phí.
4. Về quyền kháng cáo: Chị L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày; anh T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu yêu cầu thi hành án được thi hành theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Hải Dương; - Cục THADS tỉnh Hải Dương; - UBND xã Đ, huyện N; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, Lưu Tòa. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Vũ Thanh Tuấn |