- Tranh chấp gì? án hành chính — "Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý Nhà nước về chính sách thương binh xã hội"
- Tòa quyết gì? [4] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
- Căn cứ chính? Điều 193 Luật Tố tụng hành chính; Điều 194 Luật Tố tụng hành chính; Điều 241 Luật Tố tụng Hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ______________________________ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 131/2021/HC-PT Ngày: 23-3-2021 V/v: Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý Nhà nước về chính sách thương binh xã hội. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm Phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Khoa
Các Thẩm phán:
Ông Đặng Văn Ý
Ông Đặng Văn Thành
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đỗ Hồng Quân, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Phạm Công Minh, Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 782/2020/TLPT-HC ngày 21 tháng 12 năm 2020; về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý Nhà nước về chính sách thương binh xã hội”.
Do Bản án hành chính sơ thẩm số 12/2020/HC-ST ngày 14 tháng 9 năm 2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 124/2021/QĐPT-HC ngày 27 tháng 01 năm 2021; giữa các đương sự:
- Người khởi kiện: Bà Trương Th T, sinh năm 1935; Địa chỉ: Số 95, ấp Giòng Cát, xã Phú Tâm, huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
Người đại diện hợp pháp của người khởi kiện: Ông Dương L Ch, sinh năm 1958; Địa chỉ: 774 Tôn Đức Thắng, Khóm 3, Phường 5, thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng (văn bản uỷ quyền ngày 04/10/2012, có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện: Ông Triệu Du Long, là Luật sư thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
- Người bị kiện: Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Sóc Trăng Người đại diện hợp pháp của người bị kiện: Ông Mã Chí Th, Chức vụ: Phó Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Sóc Trăng (văn bản uỷ quyền ngày 15/3/2020, có mặt). Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện: Bà Lê Thị Chiến, Chức vụ: Trưởng Phòng Người có công, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
- Người kháng cáo: Giám đốc Sở Lao động - Thương Binh và Xã hội tỉnh Sóc Trăng, là người bị kiện.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại Đơn khởi kiện ngày 28/8/2012 của người khởi kiện và lời trình bày ngày 01/6/2020 trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa của người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện như sau: Ông Dương V Nh, sinh năm 1935 tại ấp Nguyễn Đồng, xã Kế An, huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng (là chồng bà Th T) tham gia cách mạng từ năm 1951 và hy sinh ngày 18/9/1964 tại ấp Giòng Cát, xã Phú Tâm, huyện MT, tỉnh Sóc Trăng, có Giấy chứng nhận gia đình liệt sĩ số HG 29651B do Giám đốc Sở Lao động, Thương binh và Xã hội tỉnh Hậu Giang ký ngày 30/6/1989 và được trợ cấp ngày 01/8/1989. Đến tháng 4/1992 bị ngưng trợ cấp đến nay. Bà Trương Th T có khiếu nại đến Sở Lao động, Thương binh và Xã hội tỉnh Sóc Trăng. Đến ngày 25/10/1993 Thanh tra Sở Lao động, Thương binh và Xã hội tỉnh Sóc Trăng có văn bản trả lời số 100/TTr.93 về việc ông Dương V Nh không đủ điều kiện công nhận liệt sĩ vì mới công tác 02 năm. Lý do đó là không đúng bởi vì: Ông Nguyễn Hoàng K (Tám H) nguyên Bí thư Chi bộ xã Phú Tâm năm 1962 xác nhận công tác chung với ông Dương V Nh (đính kèm Giấy xác nhận ngày 10/4/2009); Ông Nguyễn Hoàng K (Hai T) nguyên Bí thư xã ủy xã Phú Tâm năm 1960 xác nhận công tác chung với ông Dương V Nh (đính kèm Giấy xác nhận ngày 10/4/2009); Ông Châu Minh Đ, nguyên Chi ủy viên, Bí thư thị tứ Vũng Thơm năm 1976, xác nhận năm 1960 có công tác chung với ông Dương V Nh (đính kèm Giấy xác nhận ngày 15/01/1994). Căn cứ Biên bản của Hội đồng xét tồn động hồ sơ có công, liệt sĩ, thương binh ngày 09/4/1999 công nhận ông Dương V Nh tham gia cách mạng năm 1951 là nòng cốt, Tổ trưởng Tổ Nông Hội (đính kèm Biên bản ngày 09/4/1994 và Bản đề nghị số 82/ĐN.HC.99 ngày 21/8/1999). Bà Th T tiếp tục khiếu nại đến Ủy ban nhân dân tỉnh Sóc Trăng. Đến ngày 06/01/2005, Ủy ban nhân dân tỉnh có Thông báo số 02/TB.VP.05 về việc thông báo ý kiến kết luận của Phó Chủ tịch UBND tỉnh Sóc Trăng như sau: trường hợp của ông Dương V Nh công tác liên tục từ năm 1954 đến năm 1964 từng giữ nhiều chức vụ, được tổ chức xác nhận, do đó thống nhất công nhận ông Dương V Nh là liệt sĩ, phục hồi chế độ liệt sĩ cho gia đình ông Dương V Nh nhưng đến nay, chồng bà vẫn chưa được công nhận liệt sĩ và bà đã tiếp tục khiếu nại đến Sở Lao động, Thương binh và Xã hội tỉnh Sóc Trăng.
Đến ngày 09/6/2011 bà Th T nhận được Quyết định số 05/QĐ-SLĐTBXH của Sở Lao động, Thương binh và Xã hội tỉnh Sóc Trăng về việc cắt và thu hồi trợ cấp đối với bà Trương Th T (là vợ ông Dương V Nh), sinh năm 1935 hiện ngụ ấp Giòng Cát, xã Phú Tâm, huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng. Thời gian cắt trợ cấp từ ngày 01/7/1989. Số tiền thu hồi từ tháng 6/1976 đến tháng 6/1989 là 455.910 đồng. Lý do: ông Dương V Nh không đủ điều kiện công nhận liệt sĩ theo kết luận số 202/TTr.95 ngày 05/8/1995 của Thanh tra Sở Lao động, Thương binh và Xã hội tỉnh Sóc Trăng.
Lý do trên không đúng vì: Ông Phan Văn H, nguyên Phó Bí thư tỉnh ủy Sóc Trăng xác nhận là người tổ chức móc nối ông Dương V Nh hoạt động cách mạng từ tháng 02/1954 đến năm 1960 giữ chức vụ Trưởng trạm giao liên đường giây Nam Bộ; Ông Dương Minh S nguyên phó Ban tuyên huấn xã Kế An xác nhận: năm 1961 ông V Nh là ủy viên Ban chấp hành Nông Hội xã Phú Tâm, MT, năm 1962 là phó thư ký Ban chấp hành Nông Hội, năm 1963 phụ trách thông tin tuyên truyền và nắm tình hình địch, năm 1964 là nòng cốt chiến lược Phước Phong, xã Phú Tâm, huyện MT. Đến ngày 17/9/1964, ông ba Đ móc nối ông V Nh về khu căn cứ báo cáo tình hình địch và phổ biến chủ trương đấu tranh trực diện với địch, đến sáng hôm sau bị máy bay bắn chết (đính kèm kết quả xác minh của Thanh tra tỉnh Sóc Trăng).
Từ những lý do trên, đủ điều kiện để công nhận ông Dương V Nh là liệt sĩ nhưng Sở Lao động, Thương binh và Xã hội tỉnh Sóc Trăng ban hành Quyết định số 05/QĐ-SLĐTBXH ngày 09/6/2011 thu hồi trợ cấp là không đúng.
Nay, bà Trương Th T yêu cầu Tòa án hủy Quyết định số 05/QĐ-SLĐTBXH ngày 09/6/2011 của Sở Lao động, Thương binh và Xã hội tỉnh Sóc Trăng về việc cắt và thu hồi chế độ trợ cấp đối với bà Trương Th T là vợ ông Dương V Nh, phục hồi chế độ liệt sĩ cho gia đình ông Dương V Nh theo quy định của pháp luật và thanh toán các khoản trợ cấp từ khi bị cắt đến nay.
Trong quá trình giải quyết vụ án người đại diện theo ủy quyền của người bị kiện Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Sóc Trăng có ý kiến như sau:
Hồ sơ xác nhận của ông Dương V Nh để công nhận liệt sĩ trước đây là đúng thủ tục nhưng các văn bản xác nhận để công nhận thì không chính xác. Sau đó, người dân tố giác nên xác minh lại thì ông V Nh không đủ điều kiện công nhận liệt sĩ, nên tháng 4 năm 1992 đã ngưng trợ cấp để xác minh lại. Việc ngưng trợ cấp thực hiện bằng công văn chứ không có quyết định thu hồi chế độ trợ cấp. Quá trình xác minh, ông Châu Minh Đ xác nhận có móc nối với ông V Nh làm cơ sở cách mạng cho ông Đạo nhưng thực tế biên bản họp dân xác nhận ông V Nh đã về sống tại ấp Giòng Cát, xã Phú Tâm từ 3-4 tháng chứ không phải như xác nhận của ông Đạo. Bà Th T khiếu nại nhiều năm, qua xác minh lại thấy rằng ông V Nh không đủ điều kiện để công nhận liệt sĩ và hiện nay chưa có quyết định thu hồi giấy chứng nhận thân nhân liệt sĩ của bà Th T. Theo quy định phải giải quyết các khiếu nại lần đầu thì mới thu hồi các thủ tục tiếp theo. Quyết định số 05/QĐ-SLĐTBXH ngày 09/6/2011 của Sở Lao động, Thương binh và Xã hội là có căn cứ và Hội đồng xét duyệt huyện Châu Thành đã có văn bản gửi Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh báo cáo về việc ông V Nh không đủ điều kiện công nhận liệt sĩ. Căn cứ ban hành Quyết định trên là căn cứ vào Thông tư số 03/TBXH ngày 04/3/1983; Nghị định số 54/2006/NĐ-CP ngày 26/5/2006. Sở Lao động, Thương binh và Xã hội tỉnh Sóc Trăng giữ nguyên Quyết định số 05/QĐ-SLĐTBXH ngày 09/6/2011 về việc cắt và thu hồi chế độ trợ cấp đối với bà Trương Th T là vợ ông Dương V Nh không đủ điều kiện công nhận liệt sĩ. Ngày 03/7/2020, người bị kiện có văn bản số 856/SLĐTBXH-TTr có ý kiến như sau: Vụ việc khiếu kiện quyết định hành chính của bà Trương Th T đối với Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Sóc Trăng đã được Tòa án cấp sơ thẩm và tòa án cấp phúc thẩm xét xử “Bác đơn khởi kiện của bà Trương Th T về việc yêu cầu hủy Quyết định số 05/QĐ-SLĐTBXH tỉnh Sóc Trăng về việc cắt, thu hồi trợ cấp đối với bà Trương Th T và yêu cầu phục hồi chế độ liệt sỹ cho gia đình ông Dương V Nh. Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tiếp tục bảo vệ và giữ nguyên Quyết định số 05/QĐ-SLĐTBXH nêu trên của Giám đốc Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Sóc Trăng, do ông Dương V Nh không đủ tiêu chuẩn công nhận liệt sỹ, theo kết luận số 202/TTr.95 ngày 05/8/1995 của Thanh tra Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Sóc Trăng. Bản án hành chính sơ thẩm số 12/2020/HC-ST ngày 14 tháng 9 năm 2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng đã tuyên xử: Căn cứ vào khoản 1 Điều 30, khoản 3 Điều 32, điểm b khoản 2 Điều 193, Điều 194 và khoản 1 Điều 348 của Luật Tố tụng hành chính năm 2015; Căn cứ vào khoản 1 Điều 34 Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 ngày 27/02/2009 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về án phí, lệ phí Tòa án và khoản 1 Điều 48 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trương Th T. Hủy Quyết định số 05/QĐ-SLĐTBXH ngày 09/6/2011 của Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Sóc Trăng, về việc cắt, thu hồi trợ cấp đối với bà Trương Th T là vợ ông Dương V Nh, không đủ tiêu chuẩn công nhận liệt sỹ và yêu cầu phục hồi chế độ liệt sỹ cho gia đình ông Dương V Nh. Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự. Ngày 24/9/2020, ông Mã Chí Th là người đại diện hợp pháp của người bị kiện kháng cáo yêu cầu xem xét lại toàn bộ bản án sơ thẩm, vì có chứng cứ mới. Tại phiên tòa phúc thẩm: Ông Dương L Ch là người đại diện hợp pháp của người khởi kiện không thay đổi, bổ sung, không rút đơn khởi kiện; yêu cầu giữ nguyên bản án sơ thẩm. Ông Mã Chí Th là người đại diện hợp pháp của người bị kiện không thay đổi, bổ sung, giữ nguyên yêu cầu kháng cáo ban đầu và cung cấp cho Toà án bản photocopy các tài liệu gồm Quyết định số 1063/QĐ-TTg ngày 19/7/2017 của Thủ tướng Chính phủ, về việc truy tặng Bằng khen cho ông Dương V Nh; Bản khai thành tích của nhân dân có công trong kháng chiến chống Mỹ của ông Dương L Ch; Giấy xác nhận thành tích ngày 17/3/2015 và Giấy xác nhận cho người hoạt động cách mạng, hi sinh (không rõ ngày, tháng, năm).
Phần tranh luận:
Ông Mã Chí Th và bà Lê Thị Chiến: Xác định chính sách về công nhận Liệt sỹ được áp dụng cho các cá nhân hi sinh trong quá trình tham gia hoạt động cách mạng, khác với các chính sách khác được áp dụng, tặng thưởng cho các cá nhân là nhân dân có thành tích trong các cuộc kháng chiến. Do có đơn thư khiếu nại, tố cáo nên Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Sóc Trăng, tiến hành sưu tra, xác minh cho thấy, hồ sơ công nhận Liệt sỹ cho ông V Nh là không hợp lệ. Mặt khác, các tài liệu chứng cứ mà người bị kiện mới bổ sung tại cấp phúc thẩm, thể hiện tại thời điểm chết, ông V Nh là dân thường, không phải là cán bộ. Do đó, Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Sóc Trăng ban hành Quyết định số 05/QĐ-SLĐTBXH ngày 09/6/2011, về việc cắt và thu hồi chế độ trợ cấp đối với bà Trương Th T là vợ ông Dương V Nh là có căn cứ, đúng pháp luật. Đề nghị cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của người bị kiện, sửa bản án sơ thẩm theo hướng bác yêu cầu khởi kiện của bà Th T.
Ông Dương L Ch: Hồ sơ năm 1989 là do gia đình khai, có xác nhận của những người trực tiếp lãnh đạo cha ông thời kháng chiến, còn việc họp xét thế nào là do Nhà nước làm, ông không biết. Ông yêu cầu giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người khởi kiện trình bày: Việc khiếu kiện kéo dài đã lâu, cơ quan xét xử cao nhất là Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao đã xác định các chứng cứ có trong hồ sơ đủ căn cứ để xác định ông V Nh là Liệt sỹ. Đề nghị cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến như sau:
1. Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán chủ toạ phiên toà, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng: Xét thấy Thẩm phán chủ toạ phiên toà, các thành viên Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã tuân thủ và chấp hành đúng các quy định của Luật Tố tụng hành chính năm 2015.
2. Về tính hợp lệ của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của Giám đốc Sở LĐ-TB&XH tỉnh Sóc Trăng làm trong hạn luật định, đúng hình thức. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận về mặt hình thức.
3. Về nội dung kháng cáo: Toà án cấp sơ thẩm đã điều tra, thu thập đầy đủ các chứng cứ mà cơ quan chức năng trước đây đã lập để công nhận Liệt sỹ cho ông V Nh. Tại phiên toà phúc thẩm, người bị kiện không xuất trình được chứng cứ nào mới, do đó đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính năm 2015, không chấp nhận kháng cáo của người bị kiện và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tính hợp lệ của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của Giám đốc Sở Lao động -Thương binh và Xã hội tỉnh Sóc Trăng làm trong thời hạn, có nội dung, hình thức phù hợp và đã nộp tiền tạm ứng án phí hành chính phúc thẩm, nên đủ điều kiện để thụ lý và xét xử theo trình tự phúc thẩm. [2] Về yêu cầu kháng cáo: [2.1] Tại cấp phúc thẩm, người đại diện hợp pháp của người bị kiện bổ sung bản photocopy 04 tài liệu gồm: Quyết định số 1063/QĐ-TTg ngày 19/7/2017 của Thủ tướng Chính phủ về việc tặng và truy tặng Bằng khen cho ông Dương V Nh; Bản khai thành tích của nhân dân có công trong kháng chiến chống Mỹ; Giấy xác nhận thành tích ngày 17/3/2015 và Giấy xác nhận cho người hoạt động cách mạng hy sinh, bị thương (không rõ ngày, tháng, năm) và cho đây là những chứng cứ mới để bảo vệ yêu cầu kháng cáo. Xét thấy, các tài liệu này phục vụ cho hồ sơ truy tặng Bàng khen của Thủ tướng Chính phủ cho ông V Nh, không phải là các tài liệu mà trước đây cơ quan có thẩm quyền dùng làm căn cứ để công nhận Liệt sỹ đối với ông V Nh. Mặt khác, các tài liệu này chỉ là bản photocopy, không được thu thập theo trình tự luật định; trong đó “Bản khai thành tích của nhân dân có công trong kháng chiến chống Mỹ” mặc dù có chữ ký, con dấu của cơ quan liên quan, nhưng không có ngày, tháng, năm…Do đó, những tài liệu này không được xem là chứng cứ có giá trị chứng minh, theo quy định tại Điều 82 Luật Tố tụng hành chính năm 2015. [2.2] Toà án cấp sơ thẩm đã thu thập đầy đủ, đánh giá đúng các chứng cứ sau đây, để xác định ông V Nh có đủ điều kiện để công nhận là Liệt sỹ: [2.2.1] Giấy xác nhận ngày 15/01/1994 của ông Ba Đ, chức vụ Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã PT, huyện MT, tỉnh Sóc Trăng, nguyên trước đây là Chi ủy viên, bí thư thị tứ Vũng Thơm, Chủ tịch, phó Bí thư Chi bộ xã Phú Tâm, (có chứng thực của UBND xã Phú Tâm ngày 18/01/1994), có nội dung: “Vào ngày 18/9/1964, tôi có móc anh Bảy Nhơn từ ấp chiến lược vô báo cáo tình hình cho tôi và để truyền đạt chủ trương của Đảng cho anh Nhơn về ấp chiến lược vận động đấu tranh chống địch. Nhưng vì vô cứ trễ nên trở về không kịp nên ở lại cứ. Sáng khoảng 10 giờ, địch đổ quân có trực thăng yểm trợ, bắn anh Bảy Nhơn hy sinh tại ấp Giòng Cát tôi trực tiếp lấy thây anh Bảy Nhơn, vận động phụ nữ đem xác ra Vùng Thơm đấu tranh trực diện với địch” (bút lục số 30). [2.2.2] Ngày 06/3/1994, UBND xã Kế An, huyện Kế Sách, lập tờ xác nhận về vấn đề liệt sỹ của ông Dương V Nh, với nội dung: “...Chúng tôi hiểu tổ chức hoạt động bí mật nó hết sức phức tạp chỉ có những người tổ chức trực tiếp thì mới biết. Riêng chúng tôi đề nghị cấp trên công nhận liệt sỹ ông Dương V Nh là căn cứ vào bốn ông xác nhận trên về thành tích của ông Dương V Nh, mà hiện nay bốn cựu còn sống và trước đây có thừa nhận lãnh đạo ông Dương V Nh nếu người xác nhận không đúng sẽ chịu trách nhiệm trước pháp luật Nhà nước. Chúng tôi rất tin tưởng cấp trên xem xét, giải quyết công bằng đúng quyền lợi, đúng trách nhiệm để gia đình ông V Nh thỏa mãn với đường lối chính sách của Đảng Nhà nước ta”.
Ngày 09/4/1999, Hội đồng xét duyệt các trường hợp có công, liệt sỹ, thương binh của huyện MT, thành phần tham dự gồm đại diện các cơ quan: UBND huyện MT, Ban chỉ huy quân sự huyện MT, Công an huyện MT, Phòng Tổ chức Lao động - Thương binh và xã hội huyện MT, Hội cựu Chiến binh huyện MT, Đảng ủy xã PT và 02 cán bộ hưu trí là ông Nguyễn Hoàng K (tức ông Tám H) và ông Nguyễn Hoàng K (tức ông Hai Th), Hội đồng xét duyệt đã kết luận: “Trường hợp ông Dương Nh (tức Dương V Nh) đã nêu trên, Hội đồng xem xét trường hợp ông V Nh hy sinh là cán bộ có tổ chức, được tập thể phân công làm nhiệm vụ rõ ràng, chứ không phải như dư luận tố cáo. Hội đồng thống nhất đề nghị Ban lãnh đạo Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Sóc Trăng công nhận suy tôn liệt sỹ cho ông Dương Nh là đúng đối tượng và được hưởng mọi quyền lợi theo chính sách Nhà nước đã ban hành” (bút lục số 140).
Ngày 21/8/1999, UBND huyện MT ban hành Bảng đề nghị số 82/ĐN.HC.99 về việc công nhận liệt sỹ ông Dương Nh - xã PT gửi Ban lãnh đạo Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Sóc Trăng (bút lục số 196).
Ngày 06/01/2005, Văn phòng UBND tỉnh Sóc Trăng ban hành Thông báo số 02/TB.VP05, ý kiến kết luận của đồng chí Lê Văn Cần, Phó Chủ tịch UBND tỉnh tại cuộc họp với Thanh tra tỉnh và các ngành, địa phương có liên quan để xem xét, xử lý một số vụ việc khiếu nại, tố cáo liên quan đến việc thực hiện chính sách thương binh, liệt sỹ, có nội dung: “Trường hợp ông Dương V Nh công tác liên tục từ năm 1954 đến năm 1964, từng thời điểm ông V Nh đảm nhận nhiệm vụ khác nhau, được tổ chức xác nhận, do đó thống nhất công nhận ông Dương V Nh là Liệt sỹ, phục hồi chế độ liệt sỹ cho gia đình ông Dương V Nh. Giao Sở Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn gia đình ông Dương L Ch và ngành chức năng của huyện Kế Sách thiết lập lại hồ sơ liệt sỹ của ông Dương V Nh theo quy định” (bút lục số 145).
Ngày 13/7/2005, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Sóc Trăng ban hành Công văn số 193/CV.LĐTBXH-TBLS về việc lập lại hồ sơ liệt sỹ ông Dương V Nh, có nội dung: “Phòng Nội vụ - Lao động Thương binh và xã hội huyện MT làm tham mưu trình UBND huyện MT ký giấy báo tử công nhận liệt sĩ cho ông Dương V Nh theo quy định hiện hành và chuyển về Sở Lao động - Thương binh và Xã hội để gởi Bộ xét xin cấp lại bằng Tổ quốc ghi công” (bút lục số 150).
Các chứng cứ mà Toà án cấp sơ thẩm đã nhận định ở trên là phù hợp với các nhận định của Quyết định giám đốc thẩm số 09/2020/HC-GĐT ngày 05/3/2020 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Từ những phân tích nêu trên, xét thấy bản án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Th T là có căn cứ, đúng pháp luật. Tại cấp phúc thẩm, người bị kiện không cung cấp được tài liệu chứng cứ nào mới, làm thay đổi bản chất vụ án, do đó kháng cáo của Giám đốc sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Sóc Trăng là không có căn cứ để chấp nhận. Cần giữ nguyên bản án sơ thẩm theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa. [3] Về án phí hành chính phúc thẩm: Do giữ nguyên bản án sơ thẩm nên Giám đốc sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Sóc Trăng phải chịu án phí theo luật định. [4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 241 của Luật Tố tụng Hành chính năm 2015, Không chấp nhận kháng cáo của Giám đốc sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Sóc Trăng. Giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 12/2020/HC-ST ngày 14 tháng 9 năm 2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng. Căn cứ vào khoản 1 Điều 30, khoản 3 Điều 32, điểm b khoản 2 Điều 193, Điều 194 và khoản 1 Điều 348 của Luật Tố tụng hành chính năm 2015. Căn cứ vào khoản 1 Điều 34 Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 ngày 27/02/2009 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về án phí, lệ phí Tòa án và khoản 1 Điều 48 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, [1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trương Th T. Hủy Quyết định số 05/QĐ-SLĐTBXH ngày 09/6/2011 của Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Sóc Trăng, về việc cắt, thu hồi trợ cấp đối với bà Trương Th T là vợ ông Dương V Nh, không đủ tiêu chuẩn công nhận liệt sỹ và yêu cầu phục hồi chế độ liệt sỹ cho gia đình ông Dương V Nh. [2] Về án phí hành chính phúc thẩm: Giám đốc sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Sóc Trăng phải nộp 300.000 (ba trăm ngàn) đồng, được trừ vào 300.000 (ba trăm ngàn) đồng tạm ứng án phí hành chính phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số 7307 ngày 06/10/2020 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Sóc Trăng. Giám đốc sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Sóc Trăng đã nộp đủ án phí hành chính phúc thẩm. [3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
[4] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.