vanban.org

Bản án 131/2020/HSPT — Hình sự

TAND TP. Hà Nội Tuyên án 20/02/2020 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 20/02/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên các quyết định của bản án sơ thẩm, xử:

Xử phạt: Bị cáo Lê Thế C 24 (hai mươi tư) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật, nguy cấp, quý hiếm”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đầu thi hành án được trừ thời gian bị cáo đã tạm giữ từ ngày 07/6/2019 đến ngày 14/6/2019. Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Văn Th 18 (mười tám) … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — ""Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp quý hiếm". - phạm tội vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm (điều 2…"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên các quyết định của bản án sơ thẩm, xử:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 Án phí, lệ phí tòa án; Điều 244 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 131/2020/HS-PT
Ngày 20 - 02 -2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:

Ông Mai Văn Quang

Các Thẩm phán:

Ông Phạm Năng Thành

Bà Đặng Thị Thanh Huyền

- Thư ký phiên toà:

Ông Nguyễn Công Huy - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên toà:

Bà Nguyễn Thị Cẩm Thủy - Kiểm sát viên

Ngày 20 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, mở phiên tòa công khai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 871/2019/HSPT ngày 12 tháng 12 năm 2019 đối với bị cáo Lê Thế C và Huỳnh Văn Th do có kháng cáo của các bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 240/2019/HSST ngày 17/10/2019 của Tòa án nhân dân quận N, thành phố Hà Nội.

Bị cáo có kháng cáo:

1. Lê Thế C, sinh năm 1991; giới tính nam; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú Xóm 24, xã X, huyện Th, tỉnh Thanh Hóa; dân tộc Kinh; quốc tịch Việt Nam; tôn giáo không; trình độ học vấn 12/12; nghề nghiệp lao động tự do; con ông Lê Thanh S và bà Đinh Thị H; vợ là Nguyễn Thị Lan Nh, sinh năm 1993; tiền án, tiền sự không; bị bắt tạm giữ từ ngày 07/6/2019 đến ngày 14/6/2019 được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa.

2. Huỳnh Văn Th, sinh năm 1991; giới tính nam; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú Khu 1, xóm Đàng, xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ; dân tộc Kinh; quốc tịch Việt Nam; tôn giáo không; trình độ học vấn 10/12; nghề nghiệp lao động tự do; con ông Huỳnh Văn Ng và bà Nguyễn Thị L; vợ Nhâm Ngọc Ch; có 02 con (con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2019); tiền án, tiền sự không; bị bắt tạm giữ từ ngày 07/6/2019 đến ngày 14/6/2019 được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận N và Bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân quận N thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ ngày 06/6/2019, tổ công tác Công an quận N đang làm nhiệm vụ thì phát hiện Lê Thế C và Huỳnh Văn Th đang ngồi trong quán Hồng Đô Trà có địa chỉ tại: Số 86 đường Lê Quang Đạo thuộc phường Ph, quận N, Hà Nội có biểu hiện mua bán 06 tượng “Ông Tam Đa Phúc Lộc Thọ” làm bằng ngà voi. Tổ công tác đã lập biên bản thu giữ vật chứng, đồng thời bắt khẩn cấp Lê Thế C và Huỳnh Văn Th để điều tra làm rõ.

Ngày 07/6/2019, Cơ quan điều tra đã ra lệnh khám xét khẩn cấp nơi ở của Huỳnh Văn Th tại phường B, quận H, Hà Nội, khám xét khẩn cấp nơi ở của Lê Thế C tại địa chỉ số 138 Thịnh Liệt, quận M, Hà Nội và xóm 25 xã X, huyện Th, Thanh Hóa. Quá trình khám xét không phát hiện thu giữ gì.

Vật chứng thu giữ:

- 01 túi nilon đỏ bên trong chứa 06 tượng “Ông Tam Đa Phúc Lộc Thọ”;

- 01 điện thoại di động Iphone màu đen, bạc; 01 điện thoại di động Nokia màu đen; 01 xe ô tô nhãn hiệu Mazda BKS: 30F-558.69 (của Huỳnh Văn Th);

- 01 điện thoại di động Iphone màu trắng, bạc (của Lê Thế C).

Quá trình điều tra xác định:

Khoảng giữa tháng 5/2019, Huỳnh Văn Th sử dụng nick Zalo “Th LX” để tìm kiếm mặt hàng mỹ nghệ được chế tác từ ngà voi với mục đích để bán lại cho khách nhằm thu lợi. Th thấy nick Zalo “Lê C” (của Lê Thế C, Th biết C khi còn lao động bên Mô Dăm Bích) có đăng ảnh bán các sản phẩm được chế tác từ ngà voi. Th gọi điện cho C qua Zalo để hỏi mua 02 bộ ông tam đa làm từ ngà voi (mỗi bộ gồm các ông Phúc, Lộc, Thọ). Trước đó, thông qua Facebook “C Lê” quen nick Facebook “Mỹ Nghệ” đăng hình ảnh 02 bộ “Ông Tam Đa”. C nhắn tin thỏa thuận giá bán bộ lớn: 40.000.000 đ/kg, bộ nhỏ 21.000.000đ/kg. Khi Th hỏi mua thì C đã gửi hình ảnh coppy từ nick Facebook “Mỹ Nghệ” trên cho Huỳnh Văn Th. Còn nick Facebook “Mỹ Nghệ” C không rõ tên tuổi, địa chỉ cũng chưa gặp mặt bao giờ. Nên C gửi qua Zalo hình ảnh 02 bộ “Ông Tam Đa” trong đó bộ lớn: 2,440kg và bộ nhỏ: 1,999kg. Hai bên thỏa thuận mức giá bộ lớn là 40.000.000đ/kg, bộ nhỏ là 29.000.000đ/kg. Sau đó, Th sử dụng hình ảnh 02 bộ “Ông Tam Đa” do C gửi để đăng trên nick Facebook “Th Huỳnh” nhằm mục đích bán kiếm lời.

Đến khoảng cuối tháng 5/2019, Huỳnh Văn Th khai: Kiên (không xác định nhân thân) có nick Facebook “Cây Xanh” nhắn tin qua ứng dụng Messenger cho Th đặt mua 02 bộ “Ông Tam Đa” làm từ ngà voi, hai bên thỏa thuận với giá bán bộ lớn: 46.000.000đ/kg, bộ nhỏ: 35.000.000đ/kg và hẹn sẽ liên hệ lại. Đến khoảng 15 giờ ngày 06/6/2019, Kiên gọi điện thoại cho Th để đặt mua 02 bộ “Ông Tam Đa” làm từ ngà voi, Th đồng ý và gọi điện cho C hẹn đi giao dịch mua bán. Khoảng 19 giờ cùng ngày, C điện thoại cho Th hẹn đến khu vực đường Tân Mai, Hoàng Mai, Hà Nội để giao hàng, Th đi xe ô tô BKS: 30F-558.69 đến gặp C. Tại đây, C đưa cho Th 02 bộ “Ông Tam Đa” làm từ ngà voi để trong túi nilon màu đỏ. Do không có tiền mặt nên Th nói với C là khi nào bán được cho khách thì sẽ thanh toán cho C. Vì không tin tưởng Th nên C nói sẽ đi cùng để khi Th bán được cho khách thì sẽ lấy tiền ngay. Th thông báo cho Kiên biết đã có 02 bộ “Ông Tam Đa” làm từ ngà voi, Kiên nói sẽ cho người ra kiểm tra nếu chuẩn sẽ chuyển khoản cho Th. Sau đó, có 01 người phụ nữ gọi điện thoại hẹn Th đến quán Hồng Đô Trà ở số 86 đường Lê Quang Đạo thuộc phường Ph, quận N, Hà Nội để xem hàng. Khoảng 20 giờ 45 phút cùng ngày, Th điều khiển xe ô tô BKS: 30F-558.69 chở C đến quán Hồng Đô Trà. Khi đến quán, do Th không muốn cho C biết giá cả Th sẽ bán 02 bộ “Ông Tam Đa” cho khách nên Th bảo C ngồi ở cửa quán đợi, còn Th lên tầng hai của quán để gặp khách. Tại đây, Th gặp 01 người phụ nữ khoảng ngoài 30 tuổi đang ngồi đợi, sau khi nói chuyện Th điện thoại bảo C vào trong xe ôtô cầm 02 bộ “Ông Tam Đa” lên tầng 2 của quán cho Th. Trong quá trình Th cho khách xem 02 bộ “Ông Tam Đa” thì bị tổ công tác Công an quận N kiểm tra bắt giữ. Lợi dụng sở hở người phụ nữ xem hàng đã bỏ trốn.

Tại bản Kết luận giám định động vật số 538 ngày 21/6/2019 của Viện sinh thái và Tài nguyên sinh vật - Viện hàn lâm khoa học và công nghệ Việt Nam xác định: 06 tượng Ông Tam Đa Phúc Lộc Thọ là được làm từ Ngà loài Voi.

Tại bản kết luận giám định số: 4027 ngày 27/6/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội xác định:

- 03 tượng hình các ông Phúc, Lộc, Thọ (ký hiệu M1) có tổng trọng lượng 1.995,91 gam.

- 03 tượng hình các ông Phúc, Lộc, Thọ (ký hiệu M2) có tổng trọng lượng: 2.419,55 gam.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 240/2019/HSST ngày 17/10/2019 của Tòa án nhân quận N, thành phố Hà Nội đã xét xử: Tuyên bố bị cáo Lê Thế C, Huỳnh Văn Th phạm tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm”;

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 244, điểm s khoản 1 Điều 51 (áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Th); Điều 38; Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự;

Xử phạt:

- Lê Thế C 24 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 07/6/2019 đến ngày 14/6/2019.

- Huỳnh Văn Th 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 07/6/2019 đến ngày 14/6/2019.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định xử lý vật chứng; án phí và quyền kháng cáo của những người tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật.

Ngày 23 và 24/10/2019, bị cáo Huỳnh Văn Th và bị cáo Lê Thế C có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Các bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Căn cứ lời khai của bị cáo, lời khai của những người liên quan; biên bản thu giữ tang vật; kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo về tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 244 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng vai trò, tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của từng bị cáo để xử phạt bị cáo Lê Thế C 24 tháng tù; bị cáo Huỳnh Văn Th 18 tháng tù là phù hợp nên không có căn cứ để giảm nhẹ thêm hình phạt cho bị cáo.

Xét kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo thấy: Tuy các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; nhưng xét trong bối cảnh tình hình tội phạm về động vật hoang dã diễn biến ngày càng gia tăng và phức tạp, nên việc Tòa án cấp sơ thẩm khi xét xử không cho các bị cáo được hưởng án treo là cần thiết. Do đó, không có cơ sở xem xét cho các bị cáo được cải tạo ngoài xã hội.

Từ phân tích trên, đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật tố tụng hình sự, bác kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên các quyết định của bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Kháng cáo của các bị cáo trong hạn luật định nên hợp lệ được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Về nội dung: Tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Căn cứ lời khai của bị cáo; lời khai của những người liên quan; biên bản thu giữ tang vật;kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 21 giờ ngày 06/6/2019, tại quán Hồng Đô Trà, địa chỉ số 86 đường Lê Quang Đạo thuộc phường Ph, quận N, Hà Nội, Lê Thế C và Huỳnh Văn Th có hành vi cất giấu trái phép 06 tượng “Tam Đa Phúc Lộc Thọ” làm bằng ngà voi có tổng khối lượng là 4415,66 gam mục đích để bán kiếm lời thì tổ công tác đội Cảnh sát kinh tế Công an quận N phát hiện, bắt giữ. Với hành vi trên, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo về tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 244 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm quy định của Nhà nước về bảo vệ động vật nguy cấp, quý hiếm, gây tác động, ảnh hưởng xấu đến sự phát triển đa dạng môi trường sinh thái, đồng thời gây mất trật tự trị an trên địa bàn thủ đô. Các bị cáo đều là người có đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi, biết rõ ngà voi là một phần cơ thể của động vật thuộc loài nguy cấp, quý hiếm thuộc danh mục Nhà nước bảo vệ nhưng các bị cáo vẫn cố ý phạm tội, có hành vi buôn bán các sản phẩm chế tác từ ngày voi. Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng vai trò, tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của từng bị cáo để xử phạt bị cáo Lê Thế C 24 tháng tù; bị cáo Huỳnh Văn Th 18 tháng tù là phù hợp nên không có căn cứ để giảm nhẹ thêm hình phạt cho bị cáo.

Xét kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo, thấy: Tuy các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, như: sau khi phạm tội các bị cáo thành khẩn khai báo và thực sự năn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; nhân thân chưa có tiền án, tiền sự; gia đình các bị cáo có bố và ông bà là người có công với cách mạng, được tặng thưởng huân huy chương của Nhà nước; bị cáo Th có hoàn cảnh gia đình khó khăn, có 01 con bị bệnh nặng. Nhưng xét trong bối cảnh tình hình tội phạm về loại tội trên diễn biến trong nước ngày càng gia tăng và phức tạp; để giáo dục các bị cáo và răn đe, phòng ngừa tội phạm chung, xét thấy việc Tòa án cấp sơ thẩm khi xét xử không cho các bị cáo được hưởng án treo là cần thiết. Do đó, không có cơ sở xem xét cho các bị cáo được cải tạo ngoài xã hội.

Về án phí: Các bị cáo không được chấp nhận kháng cáo nên phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự,

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên các quyết định của bản án sơ thẩm, xử:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 244; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015.

- Xử phạt: Bị cáo Lê Thế C 24 (hai mươi tư) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật, nguy cấp, quý hiếm”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đầu thi hành án được trừ thời gian bị cáo đã tạm giữ từ ngày 07/6/2019 đến ngày 14/6/2019.

- Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Văn Th 18 (mười tám) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật, nguy cấp, quý hiếm”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đầu thi hành án được trừ thời gian bị cáo đã tạm giữ từ ngày 07/6/2019 đến ngày 14/6/2019.

2. Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH 12 ngày 27/02/2009 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về Án phí, Lệ phí Tòa án; Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Các bị cáo Lê Thế C, Huỳnh Văn Th, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày 20/02/2020.

Thành viên Hội đồng xét xử

Cỡ chữ