- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn C - Tàng trữ hàng cấm - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn C, sửa Bản án sơ thẩm, giữ nguyên mức hình phạt tù, cho bị cáo hưởng án treo.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 191 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 131/2020/HS-PT Ngày 25/8/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Cường
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Đức Thi
Ông Trần Quốc Sơn
Thư ký phiên tòa: Ông Lương Văn Hòa - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa:
Ông Bùi Anh Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 25/8/2020, tại Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ A xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 131/2020/TLPT-HS ngày 23/6/2020 đối với bị cáo Trần Văn C do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 20/2020/HS-ST ngày 24/4/2020 của Tòa án nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An.
- Bị cáo có kháng cáo.
Họ và tên: Trần Văn C; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 27/9/1984. Nơi ĐKHKTT: xóm 17, xã P, huyện N, tỉnh N. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 9/12; Con ông Trần Văn H (đã chết) và bà Nguyễn Thị H. Bị cáo có vợ là Đồng Thị Hồng M và có 02 con; Con lớn nhất sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2015. Tiền sự, tiền án: không; Bị tạm giữ từ ngày 05/01/2020 đến ngày 08/01/2020 thì được áp dụng biện pháp ngăn chặn "Cấm đi khỏi nơi cư trú". Có mặt tại phiên tòa
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do có nhu cầu sử dụng pháo nổ trong dịp tết Nguyên đán 2020 nên Trần Văn C đã gặp và làm quen với một người đàn ông tên Trung (không rõ địa chỉ, lai lịch) để hỏi mua. Lúc 15 giờ ngày 05/01/2020, người đàn ông tên Trung đó gọi điện vào máy đi động có số 0395667992 của C và hỏi C có mua nhiều pháo không. C nói mua 03 cối pháo loại 49 quả và 02 cối pháo loại 36 quả. Hai bên thống nhất giá là 3.800.000 đồng. Đến 17 giờ 30’ cùng ngày, Trung gọi điện hẹn C đến khu vực xã Nghi Quang, huyện Nghi Lộc để giao pháo. Trần Văn C đã sử dụng xe mô tô của mình là xe AIRBLADE màu đỏ có biển kiểm soát 37 N9-8218 đi nhận pháo, khi đến khu vực xóm Trung Tiến, xã Nghi Quang, huyện Nghi Lộc thì gặp Trung. Tại đây, Trung giao cho C 01 bao xác rắn và nói cho thêm C một cối pháo loại 36 quả. Khi Trần Văn C chở số pháo đi được một đoạn thì bị lực lượng công an phát hiện, bắt quả tang; thu giữ 06 hộp pháo, 01 điện thoại di động và chiếc xe máy nêu trên.
Ngày 05/01/2020 cơ quan Công an tiến hành xác định trọng lượng số vật chứng thu được: 06 cối pháo có khối lượng 9,2 kg. Tại bản Kết luận giám định số 90/KL-PC09(DD2- CN) ngày 08/01/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An, kết luận: Mẫu vật gửi giám định có đầy đủ tính năng của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ). Bị cáo Trần Văn C không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi của cơ quan cũng như người tiến hành tố tụng và khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Cáo trạng số 22/CT-VKS-NL ngày 24/02/2020 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc truy tố bị cáo Trần Văn C về tội danh "Tàng trữ hàng cấm" theo điểm c khoản 1 Điều 191 bộ luật Hình sự năm 2015. Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố Trần Văn C phạm tội "Tàng trữ hàng cấm" và áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1; khoản 2 Điều 51 bộ luật Hình sự năm 2015 để xử phạt Trần Văn C từ 06 đến 09 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo, đề nghị xử lý vật chứng theo quy định. Bị cáo nói lời sau cùng, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 20/2020/HSST ngày 24/4/2020 của Tòa án nhân dân huyện Nghi Lộc đã quyết định: Tuyên bố bị cáo Trần Văn C phạm tội "Tàng trữ hàng cấm". Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; các điểm i, s khoản 1và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015; Xử phạt Trần Văn C 06 (sáu) tháng tù nhưng được trừ 03 ngày tạm giữ (từ ngày 05/01/2020 đến ngày 08/01/2020), buộc bị cáo phải chấp hành 5 (năm) tháng 27 (hai bảy) ngày. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án. Ngoài ra bản án còn tuyên xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo của bị cáo.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 28/4/2020, bị cáo Trần Văn C kháng cáo với nội dung mức án quá cao, bị cáo xin được hưởng án treo vì lý do bản thân có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng, thành khẩn khai báo; bố ruột của bị cáo là người có công với cách mạng được nhà nước tặng thưởng huân, huy chương thời kỳ chống Mỹ; bị cáo là lao động chính trong gia đình một mình nuôi 02 con nhỏ và vợ đang mang bầu đứa thứ 3, mẹ thường xuyên đau ốm, vợ không có việc làm. Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội và giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu quan điểm: Căn cứ vào hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng, nhận thấy, cấp sơ thẩm đã xét xử và quyết định hình phạt 06 tháng tù đối với bị cáo về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự là đúng quy định. Tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bố bị cáo là người có công với nước, bị cáo có nhân thân tốt, nơi cư trú rõ ràng, đề nghị áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn C, sửa Bản án sơ thẩm, giữ nguyên mức hình phạt tù, cho bị cáo hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo bị cáo Trần Văn C được gửi trong thời hạn kháng cáo theo đúng quy định tại khoản 1 Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Đơn kháng cáo hợp pháp. HĐXX chấp nhận xem xét giải quyết đơn kháng cáo của bị cáo theo trình tự phúc thẩm.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo: Vào khoảng, 17 giờ 30 phút ngày 05/01/2020, Trần Văn C đã liên hệ qua điện thoại và mua của một người tên Trung (không rõ địa chỉ) 03 cối pháo loại 49 quả và 03 cối pháo loại 36 quả, khối lượng 9,2 kg, mục đích để sử dụng, C đã nhận pháo và giao tiền cho Trung tại xã Nghi Quang, huyện Nghi Lộc. Khi bị cáo dùng xe máy chở số pháo trên đến tại khu vực xóm Trung Tiến, xã Nghi Quang, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An về nhà cất dấu thì bị cơ quan Công an phát hiện, bắt giữ. Hành vi của bị cáo mua 9,2kg pháo nổ về cất dấu để sử dụng là hành vi "Tàng trữ hàng cấm" theo quy định của Bộ luật hình sự. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng vẫn cố tình thực hiện. Cấp sơ thẩm đã truy tố, xét xử và quyết định hình phạt 06 tháng tù đối với bị cáo Trần Văn C về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Trần Văn C:
Vụ án có tính chất ít nghiêm trọng nhưng nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý kinh tế đối với những mặt hàng kinh doanh có điều kiện. Đặc biệt trong tình hình hiện nay, Nhà nước đang thực hiện chủ trương cấm tàng trữ, sử dụng các loại pháo nhưng bị cáo không chấp hành mà lại ngang nhiên vi phạm pháp luật. Hình phạt 06 tháng tù Tòa án nhân dân huyện Nghi Lộc áp dụng đối với bị cáo là tương xứng với hành vi phạm tội. Tuy nhiên, xét bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 51, 52 Bộ luật hình sự: 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự: Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng (điểm i); Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải (điểm s); Bố của bị cáo là người có công với cách mạng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhì; bị cáo có nhân thân tốt, nơi cư trú rõ ràng, ổn định. Xét thấy bị cáo có khả năng tự cải tạo và việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm, giữ nguyên mức hình phạt tù, thay đổi biện pháp chấp hành hình phạt cho bị cáo hưởng án treo, thể hiện chính sách nhân đạo, khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An.
Về án phí hình sự phúc thẩm: Kháng cáo của bị cáo được chấp nhận, bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng Hình sự:
[1] Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn C, sửa Bản án sơ thẩm, giữ nguyên mức hình phạt tù, cho bị cáo hưởng án treo.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 191; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt: Bị cáo Trần Văn C 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo về tội “Tàng trữ hàng cấm”, thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo cho UBND xã Phúc Thọ, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách án treo. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo quy định pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phát chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
[2] Về án phí: Căn cứ điểm h, khoản 2, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Trần Văn C không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[3] Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Nghệ An; - TAND huyện Nghi Lộc; - VKSND huyện Nghi Lộc; - Cơ quan điều tra Công an h. Nghi Lộc; - Cơ quan T.H.A hình sự h. Nghi Lộc; - Bị cáo; - UBND xã Phúc Thọ, huyện Nghi Lộc; - Sở Tư pháp tỉnh Nghệ An; - Lưu HSVA. THS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Quốc Cường |