vanban.org

Bản án 131/2020/DSPT — Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

TAND tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 28/07/2020 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 28/07/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Căn cứ khoản 3 Điều 296, khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015: Áp dụng khoản 2 v khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 158, khoản 1 Điều 161, khoản 2 Điều 162, khoản 1 v khoản 6 Điều 165, khoản 1 Điều 166, điểm khoản 2 Điề…

[1.1] Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của ông Phạm Xuân S. [1.2] hông chấp nhận kháng cáo của Mai Thị N. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất"
  • Tòa quyết gì? [1] Căn cứ khoản 3 Điều 296, khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015: Áp dụng khoản 2 v khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 158, khoản 1 Điều 161, khoản 2 Điều 162, khoản 1 v khoản 6 Điều 165, khoản 1 Điều 166, điểm khoản 2 Điề…
  • Căn cứ chính? Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 131/2020/DS-PT
Ngày: 28-7-2020
V/v tranh chấp hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất và yêu
cầu trả lại đất.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Anh Tuấn.

Các Thẩm phán:

Ông Ho ng im hánh

B Đinh Thị Tuyết

- Thư ký phiên toà: B ại Thị Minh Hiền - Thư ký To án nhân dân tỉnh Đắk ắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk: B Nguy n Thị Hải Anh

- iểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 28 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở To án nhân dân tỉnh Đắk ắk xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 111/2020/TLPT-DS ngày 02/6/2020, về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và yêu cầu trả lại đất”. Do ản án dân sự s thẩm số: 07/2020/DS ST, ng y 16/4/2020, của Tòa án nhân dân huyện Ea ar, tỉnh Đắk ắk có kháng cáo, kháng nghị.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 140/2020/QĐ-PT ngày 16/6/2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 132/2020/QĐ-PT ngày 06 tháng 7 năm 2020, giữa các đư ng sự:

* Nguyên đơn: Ông Mai Xuân V, sinh năm 1949 v

ê Thị L, sinh năm 1950; trú tại: Xã C, huyện E, tỉnh Đắk ắk; ông V, bà L đều có m t.

* B đơn:

- Ông Phạm Xuân S, sinh năm 1968; trú tại: Phường K, Tp. B, tỉnh Đắk ắk; vắng m t không có lý do.

- B Mai Thị N, sinh năm 1978; trú tại: Thôn T, xã Đ, thành phố G, tỉnh Đắk Nông; có m t.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Anh Lê Hoàng D, sinh năm 1981 v anh ê Ho ng T1, sinh năm 1985; đều trú tại: Xã C, huyện E, tỉnh Đắk ắk; vắng m t không có lý do.

- B Nguy n Thị T2, sinh năm 1964; trú tại: Xã C, huyện E, tỉnh Đắk ắk; có đ n xin xét xử vắng m t.

- Ông ê Hồng S1, sinh năm 1960; trú tại: Xã C, huyện E, tỉnh Đắk ắk; vắng m t không có lý do.

- Ông Mai Trung N1, sinh năm 1980; trú tại: Ấp B1, xã T3, huyện H, tỉnh Bình Phước; có đ n xin xét xử vắng m t.

* Người kháng cáo: Bị đ n ông Phạm Xuân S, bà Mai Thị N.

* Người kháng ngh : Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk ắk.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn trình bày:

Tháng 9/2009, Nguy n Thị T2, ông Lê Hồng S1 có chuyển nhượng cho vợ chồng tôi 4 thửa đất liền kề (gồm các thửa 4,5,6 thuộc tờ ản đồ số 24 v 233a thuộc tờ ản đồ số 17) với tổng diện tích đất 43.505m2 tại xã C, huyện E theo Giấy chứng nhận quyền sử đất số P 028484 do Ủy an nhân dân huyện E cấp ng y 29/11/1999 mang tên hộ Nguy n Thị T2, với giá tiền chuyển nhượng l 324.000.000 đồng ( a trăm hai mư i ốn triệu đồng) ao gồm cả diện tích hồ. Do mục đích mua đất cho con trai l Mai Trung N1 nên khi viết giấy chuyển nhượng có ghi tên người nhận chuyển nhượng l Mai Trung N1. Hai ên viết giấy tờ tay có thôn trưởng xác nhận nhưng không qua chính quyền địa phư ng chứng thực. Vợ chồng tôi đã giao đủ tiền chuyển nhượng cho gia đình T2 v được n giao đất trên thực địa. Vị trí diện tích đất nhận chuyển nhượng: phía Đông giáp đường liên thôn; phía Tây giáp thửa đất rẫy của ông T3 (nay đã chuyển nhượng cho ông Đ1); phía Nam giáp thửa đất rẫy của ông T4; phía Bắc giáp thửa đất rẫy của ông Q. Gia đình Nguy n Thị T2 đã giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P 028484 cho vợ chồng tôi. Tuy nhiên, do tôi ị ệnh phải điều trị nên chưa có điều kiện l m thủ tục trước ạ sang tên theo quy định của pháp luật.

Sau khi nhận chuyển nhượng, vợ chồng tôi quản lý v phá ỏ to n ộ cây điều, cây ăn trái, chỉ để lại một căn nh cấp 4, một cây dừa, 01 giếng nước v 01 hồ nước. Cuối năm 2009, do tôi (V) ị ệnh nên chuyển về tỉnh Bình Phước sinh sống v chữa ệnh, có giao lại to n ộ diện tích đất trên cho con gái l Mai Thị N mượn để canh tác, đồng thời giao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P 028484 v giấy chuyển nhượng viết tay giữa vợ chồng tôi v gia đình T2 cho N quản lý giùm. hi giao đất tôi có nói miệng với N (chưa được sự đồng ý của L) l nếu sau n y có nhu cầu sử dụng thì trả cho vợ chồng tôi 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng) để dưỡng gi , phần còn lại tư ng đư ng 1,5 ha cho một mình N.

Quá trình sử dụng: Mai Thị N v Phạm Xuân S đã trồng to n ộ cây cao su trên phần đất của vợ chồng tôi cho mượn, khi trồng cây cao su thì vợ chồng tôi có iết nhưng không có kiến gì. Đến tháng 5/2015, vợ chồng tôi phát hiện N, ông S đã l m thủ tục sang tên từ gia đình T2 đối với các thửa đất nêu trên. Vợ chồng tôi có yêu cầu N nếu muốn lấy đất để canh tác thì phải trả cho vợ chồng tôi 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng), nếu không trả tiền thì phải trả lại đất. Tuy nhiên, bà N, ông S không chấp nhận trả tiền v cũng không trả lại đất. Vì vậy, vợ chồng tôi yêu cầu hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa gia đình Nguy n Thị T2 v ông Phạm Xuân S, Mai Thị N. Đồng thời, yêu cầu ông Phạm Xuân S v

Mai Thị N phải trả lại to n ộ diện tích đất 43.505m2 nói trên cho vợ chồng tôi, vợ chồng đồng ý trả lại giá trị t i sản m ông S, bà N đã tạo dựng trên đất.

Do 04 thửa đất (gồm các thửa 4,5,6 thuộc tờ ản đồ số 24 v 233a thuộc tờ ản đồ số 17) với tổng diện tích đất 43.505m2 nhưng theo ản đồ đo đạc năm 2010 thì còn lại 03 thửa (gồm các thửa 315, 155 thuộc tờ ản đồ số 73 v thửa đất 60 thuộc tờ ản đồ số 74) với tổng diện tích 41.978m2 nên tại phiên tòa nguyên đ n yêu cầu ị đ n phải trả lại diện tích đất l 41.978m2.

- B đơn bà Mai Th N trình bày:

V o năm 2009, ố mẹ tôi l ông Mai Xuân V,

ê Thị L có nhận chuyển nhượng của gia đình Nguy n Thị T2 4 thửa đất liền kề (gồm các thửa 4,5,6 thuộc tờ ản đồ số 24 v 233a thuộc tờ ản đồ số 17) với tổng diện tích đất l 43.505m2 tại xã C, huyện E theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P 028484 do Ủy an nhân dân huyện E cấp ng y 29/11/1999 mang tên hộ Nguy n Thị T2 với giá trị chuyển nhượng l 324.000.000 đồng ( a trăm hai mư i ốn triệu). M c dù to n ộ số tiền n y l của ố mẹ tôi nhưng mục đích mua cho em trai tôi là Mai Trung N1 nên trong giấy chuyển nhượng ghi tên người nhận chuyển nhượng l Mai Trung N1. Gia đình T2 đã nhận đủ số tiền chuyển nhượng từ ông V, bà L đồng thời giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chuyển nhượng viết tay v n giao đất trên thực địa cho ông V, bà L.

Sau khi nhận chuyển nhượng thì ông V, bà L l người quản lý diện tích đất trên đến khoảng tháng 3/2010, ông V và bà L về tỉnh Bình Phước chữa ệnh nên có giao lại cho tôi mượn để canh tác, trồng m u, tại thời điểm n y trên đất chỉ còn căn nh xây cấp 4, 01 cây dừa, 01 giếng nước v 01 hồ nước. hoảng tháng 5/2010, ố mẹ tôi gọi điện thoại cho tôi có nói để lại cho một mình tôi to n ộ diện tích đất trên với giá 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng) v khi n o không có tiền thì lấy, nếu có thì thôi, chỉ nói miệng không có giấy tờ gì. Tại thời điểm n y, mẹ tôi ( L) có giao cho tôi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên hộ T2 v giấy chuyển nhượng viết tay giữa vợ chồng T2 v người nhận chuyển nhượng l Mai Trung N1, mục đích giao các giấy tờ n y để đưa cho tôi l m thủ tục sang tên cho một mình tôi. Sau đó, gia đình T2 có ký hợp đồng chuyển nhượng 4 thửa đất nêu trên cho tôi v ông Phạm Xuân S tại Ủy an nhân dân xã C. Tuy nhiên, Nh nước chỉ công nhận một phần của hợp đồng chuyển nhượng đối với thửa đất có diện tích l 25.540m2, 03 thửa đất còn lại thì l m thủ tục thuê đất, từ thời điểm đó đến nay, chúng tôi chưa nhận được ất cứ quyết định hay văn ản giấy tờ gì của c quan có thẩm quyền đối với 03 thửa đất nêu trên. Tôi khẳng định khi l m thủ tục chuyển nhượng đối với diện tích đất 43.505m2 giữa gia đình T2 v tôi với ông S, không có thỏa thuận gì về việc chuyển nhượng, không có việc giao tiền. Giấy chuyển nhượng viết tay giữa gia đình T2 v người nhận chuyển nhượng đứng tên Mai Trung N1 do tôi đã l m thất lạc v o cuối năm 2018.

Năm 2011, tôi v ông S trồng cây cao su, xây nh tạm v trồng một số cây ăn trái khác, ông V và bà L biết nhưng không ý kiến gì. Tháng 6/2017, ông V, bà L có yêu cầu tôi trả lại 200.000.000 đồng, hai ên có thỏa thuận miệng trả trong 04 năm, mỗi năm 50.000.000 đồng. Tuy nhiên, đến nay tôi v ông S chưa trả cho ông V, bà L khoản tiền n o.

Vì vậy, tôi không chấp nhận yêu cầu của phía nguyên đ n, chỉ đồng ý trả cho ông Mai Xuân V,

ê Thị L số tiền 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng).

- Đồng b đơn ông Phạm Xuân S trình bày:

Tôi thừa nhận to n ộ lời khai của Mai Thị N l đúng sự thật, xác định nguồn gốc 4 thửa đất với tổng diện tích đất 43.505m2 l do vợ chồng ông Mai Xuân V,

ê Thị L nhận chuyển nhượng của gia đình Nguy n Thị T2, ông Lê Hồng S1 v o năm 2009.

Tôi khẳng định khi l m thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa gia đình Nguy n Thị T2 v tôi với Mai Thị N đối với tổng diện tích đất 43.505m2 nói trên, hai ên không thỏa thuận gì về việc chuyển nhượng, không có việc giao tiền v n giao đất. Tuy nhiên, Nh nước chỉ công nhận việc chuyển nhượng đối với thửa đất số 5, tờ ản đồ số 24, diện tích 25.540m2 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BI 794467 do Ủy an nhân dân huyện E cấp ng y 22/4/2015 mang tên Mai Thị N, Phạm Xuân S. Đối với 03 ( a) thửa đất còn lại thì tôi ký đ n xin thuê đất như t i liệu lưu trong hồ s vụ án, từ thời điểm đó đến nay tôi v

Mai Thị N chưa nhận được quyết định hay văn ản gì của c quan có thẩm quyền về 03 thửa đất nêu trên. Hiện nay tôi v

Mai Thị N đã ly hôn theo quyết định công nhận thuận tình ly hôn số 147 ng y 18/6/2019 của Tòa án nhân dân th nh phố B, tỉnh Đắk ắk. Nguyện vọng, không chấp nhận yêu cầu của nguyên đ n, chỉ đồng ý trả cho ông V, bà L số tiền 200.000.000 đồng(hai trăm triệu đồng) như thỏa thuận miệng giữa hai ên.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Th T2 trình bày:

V o tháng 9/2009, tôi v ông ê Hồng S1 có chuyển nhượng cho vợ chồng ông V, bà L 4 thửa đất liền kề (gồm các thửa 4,5,6 thuộc tờ ản đồ số 24 v 233a thuộc tờ ản đồ số 17) với tổng diện tích đất 43.505m2 tại xã C, huyện E theo giấy chứng nhận quyền sử đất số P 028484 do Ủy an nhân dân huyện E cấp ng y 29/11/1999 mang tên hộ Nguy n Thị T2, với giá tiền chuyển nhượng l 324.000.000đ ( a trăm hai mư i ốn triệu đồng) ao gồm cả diện tích hồ nước. Hai ên có lập giấy chuyển nhượng viết tay, có thôn trưởng xác nhận nhưng không qua chính quyền địa phư ng chứng thực. Gia đình tôi đã nhận đủ tiền v tiến h nh n giao đất trên thực địa. Tại thời điểm chuyển nhượng chỉ có tôi v ông S1 giao dịch ký kết, còn hai con tôi l ê Ho ng D và Lê Hoàng T1 không tham gia ký kết nhưng iết việc chúng tôi chuyển nhượng v không ý kiến gì. Tôi đã giao cho vợ chồng ông V, bà L giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P 028484, sau khi chuyển nhượng xong thì tôi về quê ở tỉnh Ninh Thuận sống nên không iết lý do tại sao ông V chưa l m thủ tục trước ạ sang tên.

Năm 2014, tôi đang sinh sống ở tỉnh Ninh Thuận thì con trai tôi l ê Ho ng D có điện thoại cho tôi v nói “Má lên ký giấy chuyển nhượng cho bà N, bởi vì diện tích đất đang do bà N quản lý, trồng cây cao su và giữ giấy chuyển nhượng viết tay, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”. Tôi nghĩ giữa ông V, bà L và bà N có thỏa thuận gì đó với nhau. Vì vậy, tôi và hai con là Lê Hoàng D và Lê Hoàng T1 đến Ủy an nhân dân xã C để l m thủ tục chuyển nhượng cho N, ông S1 ký hợp đồng chuyển nhượng lúc n o thì tôi không iết (tôi v ông S1 đã ly hôn). Thực chất gia đình tôi v ông S, bà N không có thỏa thuận gì về việc chuyển nhượng, không nhận ất cứ khoản tiền n o từ N, ông S. Việc gia đình tôi ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho N, ông S thì không được sự đồng ý của ông V, bà L ởi giữa chúng tôi không có liên lạc với nhau, chỉ nghĩ họ l cha mẹ con với nhau trong khi đó gia đình tôi đã chuyển nhượng cho ông V, bà L nên ký chuyển nhượng cho xong việc. Do đó, tôi đồng ý với yêu cầu của phía nguyên đ n l hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa gia đình tôi v ông Phạm Xuân S, Mai Thị N; ông S, bà N phải trả lại to n ộ diện tích đất cho V, bà L; gia đình tôi không yêu cầu gì.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Hồng S1 trình bày:

hoảng năm 2008, tôi v

Nguy n Thị T2 có chuyển nhượng cho vợ chồng ông Mai Xuân V,

ê Thị L 4 thửa đất liền kề (gồm các thửa 4, 5, 6 thuộc tờ ản đồ số 24 v 233a thuộc tờ ản đồ số 17) với tổng diện tích đất 43505m2 tại xã C, huyện E theo giấy chứng nhận quyền sử đất số P 028484 do Ủy an nhân dân huyện E cấp ng y 29/11/1999 mang tên hộ Nguy n Thị T2, với giá tiền chuyển nhượng l 320.000.000đ ( a trăm hai mư i triệu đồng). Tôi l người viết giấy chuyển nhượng, sau đó tôi cùng T2 và hai con là Lê Hoàng D, Lê Hoàng T1 ký v o giấy chuyển nhượng, có trưởng thôn xác nhận. Gia đình tôi đã nhận đủ tiền chuyển nhượng, n giao đất trên thực địa v đã giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P 028484 cho vợ chồng ông V, bà L.

Thời gian sau đó, N có đến yêu cầu tôi ký lại giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất mới để l m thủ tục sang nhưng tôi không đồng ý. Do đó, đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đ n thì tôi đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Mai Trung N1 trình bày:

Năm 2009, ố mẹ tôi l ông V, bà L có nhận chuyển nhượng của gia đình

Nguy n Thị T2 4 thửa đất liền kề (gồm các thửa 4, 5, 6 thuộc tờ ản đồ số 24 v 233a thuộc tờ ản đồ số 17) với tổng diện tích đất 43.505m2 tại thôn Quảng Cư 2, xã C, huyện E. To n ộ số tiền nhận chuyển nhượng đất l của ố mẹ tôi, tuy nhiên mục đích mua để cho tôi nên trong giấy chuyển nhượng viết tay có ghi người nhận chuyển nhượng l Mai Trung N1 nhưng thực tế tôi không quản lý v cũng không có nhu cầu sử dụng diện tích đất nói trên. Vì vậy, tôi đồng ý to n ộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đ n.

Tại bản án số 07/2020/DSST, ngày 16/4/2020 của Tòa án nhân dân huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk đã tuyên xử:

Áp dụng khoản 2 v khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 158, khoản 1 Điều 161, khoản 2 Điều 162, khoản 1 v khoản 6 Điều 165, khoản 1 Điều 166, điểm khoản 2 Điều 227 v Điều 266 Bộ luật Tố tụng Dân sự; các Điều 131, Điều 137, Điều 256 v Điều 697 Bộ luật Dân sự năm 2005; điểm d khoản 1 Điều 188 uật Đất đai năm 2013; điểm đ Điều 12, khoản 2 Điều 26, điểm khoản 3 Điều 27, tiểu mục 1.1 v điểm c tiểu mục 1.3 mục 1 phần II (Danh mục án phí) Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ng y 30/12/2016 của Ủy an thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đ n.

[1] Tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất v t i sản gắn liền với đất giữa ên chuyển nhượng hộ Nguy n Thị T2, ông ê Hồng S1, anh Lê Hoàng D, anh Lê Hoàng T1 v ên nhận chuyển nhượng ông Phạm Xuân S, bà Mai Thị N được Ủy an nhân dân xã C chứng thực ng y 18/7/2011, đối với các thửa đất số 4,5,6, 233a thuộc tờ ản đồ số 24,17 với tổng diện tích đất 43505m2 ị vô hiệu.

Buộc ông Phạm Xuân S v

Mai Thị N phải trả cho ông Mai Xuân V, bà ê Thị L to n ộ diện tích đất v t i sản gắn liền với đất, gồm: các thửa đất số 4,5 thuộc ản đồ số 24 (nay l thửa đất số 315, 155 thuộc tờ ản đồ số 73, có tổng diện tích 39086m2), vị trí tứ cận: Đông giáp đường thôn; Tây giáp rẫy c phê của ông Đ1; Nam giáp vườn cao su của ông T4; Bắc giáp vườn cao su của ông Q. Các thửa đất số 6, tờ ản đồ số 24 v thửa đất số 233a, tờ ản đồ số 17 (nay gộp th nh thửa đất số 60 thuộc tờ ản đồ số 74, diện tích 2892m2), vị trí tứ cận: Đông giáp ruộng lúa của ông V1; Tây giáp đường liên thôn; Nam giáp hồ nước của ông T5; Bắc giáp thửa đất của Đ2.

Nguyên đ n ông Mai Xuân V,

ê Thị L phải trả cho ông Phạm Xuân S ½ giá trị t i sản tạo dựng trên đất số tiền l 343.735.450đ ( a trăm ốn mư i a triệu ảy trăm a mư i lăm nghìn ốn trăm năm mư i đồng); Nguyên đ n ông Mai Xuân V,

ê Thị L phải trả cho Mai Thị N ½ giá trị t i sản tạo dựng trên đất số tiền l 343.735.450đ ( a trăm ốn mư i a triệu ảy trăm a mư i lăm nghìn ốn trăm năm mư i đồng).

[2] Xử lý chi phí giám định: Nguyên đ n ông Mai Xuân V,

ê Thị L phải chịu to n ộ chi phí giám định với số tiền l 5.040.000đ (năm triệu không trăm ốn mư i nghìn đồng). Nguyên đ n đã nộp đủ số tiền tạm ứng chi phí giám định nên không phải nộp thêm.

[3] Xử lý chi phí xem xét thẩm định v định giá t i sản: Bị đ n ông Phạm Xuân S, Mai Thị N phải chịu 3.200.000đ ( a triệu hai trăm nghìn đồng) tiền chi phí xem, xét thẩm định tại chỗ v tiền định giá t i sản. Trong đó, mỗi người phải chịu 1.600.000đ (một triệu sáu trăm nghìn đồng).

Buộc ông Phạm Xuân S phải trả cho nguyên đ n ông Mai Xuân V, bà Lê Thị L tiền tạm ứng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ v tiền định giá t i sản số tiền 1.600.000đ (một triệu sáu trăm nghìn đồng); Mai Thị N phải trả cho nguyên đ n ông Mai Xuân V,

ê Thị L tiền tạm ứng chi phí xem, xét thẩm định tại chỗ v tiền định giá t i sản số tiền 1.600.000đ (một triệu sáu trăm nghìn đồng)

Ngo i ra, ản án s thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo cho các đư ng sự.

Sau khi xét xử s thẩm xong, ng y 27/4/2020 ị đ n ông Phạm Xuân S,

Mai Thị N đã l m đ n kháng cáo to n ộ ản án s thẩm vì cho r ng Tòa án tuyên hợp đồng vô hiệu l không đảm ảo quyền lợi cho họ.

Ng y 13/5/2020, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk ắk đã có Quyết định kháng nghị số 405/QĐ NPT-V S-DS để kháng nghị ản án s thẩm theo hướng sửa ản án s thẩm, với các nội dung:

- Nguyên đ n có yêu cầu UBND huyện E hủy Giấy chứng nhận QSDĐ số BI 79446 do UBND huyện E cấp ng y 22/4/2015, cho Mai Thị N, ông Phạm Xuân S nhưng Tòa án không giải quyết yều cầu n y.

- Giấy CNQSDĐ hiện nay vẫn đứng tên N, ông S nhưng Tòa án lại hướng dẫn cho gia đình T2, ông S1, ông V, L tiến h nh l m thủ tục trước ạ sang tên đối với các thửa đất l không thể thi h nh được.

- Bản án tuyên uộc ông S, N phải trả cho L, ông V diện tích đất 39.086m2 nhưng không tuyên t i sản trên đất gồm những t i sản gì l tuyên án không r r ng.

- Tại iên ản thẩm định tại chỗ ng y 20/6/2019, thể hiện t i sản trên đất có 01 cây trồng trước thời điểm chuyển nhượng của T2 v 01 sân bê tông 60,9m2 do T2 l m nhưng ản án lại uộc L, ông V phải thanh toán giá trị t i sản n y cho N, S l không chính xác.

- Trong quá trình giải quyết vụ án ông S1 không thừa nhận chữ ký, chữ viết của mình trong hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ ng y 18/7/2011, do đó nguyên đ n ông V mới l m đ n đề nghị Tòa án trưng cầu giám định v kết luận đúng l chứ của ông S1; nhưng án s thẩm lại uộc ông V phải chịu chi phí giám định l không đúng theo quy định tại khoản 2 Điều 161 B TTDS, trường hợp n y ông S1 – người liên quan phải chịu chi phí giám định.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đ n giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; ị đ n

Mai Thi N giữ nguyên nội dung đ n kháng cáo; Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định kháng nghị. Đư ng sự không ai giao nộp thêm chứng cứ mới.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Thư ký v Hội đồng xét xử đã chấp h nh đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay người kháng cáo l ông Phạm Xuân S vắng m t tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do thì ị coi l từ ỏ việc kháng cáo. Vì vậy, đề nghị HĐXX căn cứ khoản 3 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự để đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với nội dung kháng cáo của ông Phạm Xuân S.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1, 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự không chấp nhận kháng cáo của ị đ n bà N; chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk ắk - Sửa ản án s thẩm.

Căn cứ v o các t i liệu có trong hồ s vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ v o kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên c sở xem xét đầy đủ các t i liệu chứng cứ, lời trình y của các đư ng sự, người ảo vệ quyền v lợi ích hợp pháp của đư ng sự, ý kiến của iểm sát viên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng:

Đ n kháng cáo của ị đ n ông Phạm Xuân S, bà Mai Thị N v Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk ắk kháng nghị ản án s thẩm làm trong thời hạn luật định; ông S, bà N đã đóng tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông ê Ho ng D, ê Hồng S1, Mai Trung N1 vắng m t không có lý do m c dù đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai; Nguy n Thị T2 có đ n xin xét xử vắng m t. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vắng m t những người n y.

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, ị đ n N đề nghị Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa để nhờ người ảo vệ quyền v lợi ích hợp pháp cho . Trên c sở đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk ắk - không chấp nhận việc xin hoãn phiên tòa của N. Hội đồng xét xử thấy r ng, việc đề nghị hoãn phiên tòa của N l không có căn cứ, nên Hội đồng xét xử vẫn tiến h nh xét xử vụ án.

Tại phiên tòa hôm nay, người kháng cáo l ông Phạm Xuân S đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng m t không có lý do, thì được coi như từ ỏ việc kháng cáo. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự để đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của ông Phạm Xuân S.

Về nội dung vụ án: Bà N, ông S cho r ng, v o tháng 5/2010, ông V, bà L có nói miệng chuyển nhượng to n ộ diện tích đất trên cho ông với giá 200.000.000 đồng khi n o có tiền thì trả nhưng không đưa ra được chứng cứ để chứng minh việc giao dịch n y. Theo lời trình y của nguyên đ n ông V, bà L và tại phiên tòa L cũng khẳng định ông V, bà L không phải l chuyển nhượng mà cho mượn đất để l m nên đây chưa phải l một giao dịch. M t khác, theo nguyên đ n v o tháng 5/2015, sau khi phát hiện ị đ n đã l m thủ tục sang tên từ gia đình T2 đối với các thửa đất nêu trên thì có yêu cầu N, ông S muốn lấy đất phải trả 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng), không trả tiền thì phải trả lại đất, phía ị đ n đều thừa nhận đến nay chưa trả được khoản tiền n o. H n nữa, gia đình T2 đều khẳng định thời điểm ký kết hợp đồng chuyển nhượng với N, ông S không được sự đồng ý của ông V, bà L. Việc ký kết v o hợp đồng n y, chỉ nghĩ họ l cha mẹ con với nhau nên ký chuyển nhượng cho xong việc nên ị nhầm lẫn. Do đó, ản án s thẩm đã tuyên ố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất v t i sản gắn liền với đất giữa ên chuyển nhượng hộ Nguy n Thị T2, ông ê Hồng S1, anh Lê Hoàng D, anh Lê Hoàng T1 v ên nhận chuyển nhượng ông Phạm Xuân S, Mai Thị N được Ủy an nhân dân xã C chứng thực ngày 18/7/2011, ị vô hiệu do nhầm lẫn l có căn cứ. Nên kháng cáo của ị đ n

N cho r ng, Tòa án tuyên hợp đồng vô hiệu l không đảm ảo quyền lợi cho họ l không có căn cứ chấp nhận.

Xét kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk ắk:

háng nghị cho r ng, nguyên đ n có yêu cầu UBND huyện E hủy giấy chứng nhận QSDĐ số BI 79446 do UBND huyện E cấp ng y 22/4/2015, cho Mai Thị N, ông Phạm Xuân S nhưng Tòa án không giải quyết yều cầu n y. Hội đồng xét xử thấy, tại đ n khởi kiện ng y 16/8/2018, nguyên đ n yêu cầu hai nội dung là: Yêu cầu trả lại đất v yêu cầu UBND huyện E hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nhưng đ n khởi kiện ổ sung nguyên đ n chỉ yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng v trả lại đất. hông có yêu cầu hủy GCNQSDĐ. Trong quá trình giải quyết vụ án v thể hiện các iên ản hòa giải, iên ản phiên tòa thì nguyên đ n chỉ có hai yêu cầu l đề nghị Hủy hợp đồng Chuyển nhượng v trả lại đất. Như vậy, trường hợp n y nguyên đ n đã thay đổi, sửa đổi nội dung khởi kiện v không vượt quá phạm vi khởi kiện an đầu. Tuy nhiên, ản án s thẩm không nhận định v nêu r trong ản án l thiếu sót cần rút kinh nghiệm.

M t khác việc điều chỉnh trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ các giao dịch dân sự thì không coi l quyết định cá iệt nên không cần phải hủy trong vụ án dân sự. Nên kháng nghị của Viện kiểm sát về nội dung n y l không có c sở để chấp nhận.

Bản án tuyên uộc ông S, N phải trả cho L, ông V diện tích đất 39.086m2 nhưng không tuyên r r ng t i sản trên đất gồm t i sản gì l tuyên án không r r ng. Xét kháng nghị n y l có căn cứ, nên cần phải tuyên r r ng trả lại những t i sản l những t i sản gì trên đất, để đảm ảo công tác thi h nh án. Các t i sản trên đất gồm: 01(một) nh xây tạm không tô, diện tích sử dụng 30m2; 01(một) sân ê tông có diện tích sử dụng 60,9m2; 2213 cây cao su kinh doanh; 02(hai) cây Na; 01(một) cây Hồng xiêm; 01(một) cây Mít; 01(một) cây B ; 01(một) cây Chanh; 01(một) cây Sung v 01(một) cây Nh u; 01(một) căn nh xây cấp 4 diện tích sử dụng 38,7m2; 01(một) hồ nước có diện tích 742m2 (thuộc thửa đất số 6 nay l thửa đất số 60); 01(một) giếng nước đường kính 01m, sâu 10m v 01(một) cây dừa. Vì vậy, cần phải tuyên r l giao các loại t i sản trên cho ông V, bà L. Nên kháng nghị n y của Viện kiểm sát l có căn cứ nên cần chấp nhận.

Xét kháng nghị tại iên ản thẩm định tại chỗ t i sản ng y 20/6/2019, thể hiện t i sản trên đất có 01 cây trồng trước thời điểm chuyển nhượng của T2 v 01 sân bê tông 60,9m2 do T2 l m nhưng ản án lại uộc L, ông V phải thanh toán giá trị t i sản n y cho bà N, ông S l không chính xác.

Như vậy, quá trình quản lý sử dụng đất, ông S, bà N đã tạo dựng trên các thửa đất 4, 5 thuộc tờ ản đồ số 24 (nay l thửa đất 315, 155 thuộc tờ ản đồ số 73) t i sản gồm: 01(một) nh xây tạm không tô, diện tích sử dụng 30m2; 01(một) sân bê tông có diện tích sử dụng 60,9m2; 2213 cây cao su kinh doanh; 02(hai) cây Na; 01(một) cây Hồng xiêm; 01(một) cây Mít; 01(một) cây B ; 01(một) cây Chanh; 01(một) cây Sung v 01(một) cây Nh u, theo kết quả định giá có tổng giá trị l 687.470.900đ. Nhưng phải trừ đi giá trị 01 cây trồng trước thời điểm chuyển nhượng của T2 v 01 sân bê tông 60,9m2 (687.470.900 – cây 808.700 – sân ê tông 1.420.000) = 685.242.200đ. Do đó, uộc nguyên đ n ông Mai Xuân V,

ê Thị L phải trả giá trị t i sản cho ông Phạm Xuân S và bà Mai Thị N với số tiền l 685.242.200đ. Trong đó: ông V, bà L phải trả cho ông Phạm Xuân S số tiền l 342.621.100đ; ông V, bà L phải trả cho Mai Thị N số tiền l 342.621.100đ. Nội dung kháng nghị n y l có căn cứ, cần sửa ản án s thẩm không uộc nguyên đ n phải thánh toán giá trị t i sản đối với 02 t i sản n y.

Trong quá trình giải quyết vụ án, ông S1 không thừa nhận chữ ký, chữ viết của mình trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ng y 18/7/2011. Do đó, nguyên đ n ông V mới l m đ n đề nghị Tòa án trưng cầu giám định v kết luận đúng l chữ của ông S1; nhưng án s thẩm lại uộc ông V phải chịu chi phí giám định l không đúng theo quy định tại khoản 2 Điều 161 B TTDS, trường hợp n y ông S1 – người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải chịu chi phí giám định. Việc kháng nghị n y l có căn cứ. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm, phía nguyên đ n ông Mai Xuân V,

ê Thị L tự nguyện chịu to n ộ chi phí giám định n y l 5.040.000đ nên cần ghi nhận sự tự nguyện n y của ông V, L.

Bản án s thẩm tuyên: Gia đình Nguy n Thị T2, ông ê Hồng S1, anh Lê Hoàng D, anh Lê Hoàng T1 và ông Mai Xuân V,

ê Thị L tiến hành l m thủ tục trước ạ sang tên đối với các thửa đất nêu trên theo quy định của pháp luật đất đai. Việc tuyên như vậy l không đảm ảo việc thi hành ản án. Mà cần tuyên các ên có quyền liện hệ với c quan có thẩm quyền để l m thủ tục sang tên, đổi chủ theo quy định của pháp luật.

Từ các phân tích, nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm cần áp dụng khoản 1, 2 Điều 308; Điều 309 của Bộ luật tố tụng dân sự. Không chấp kháng cáo của ị đ n bà N; chấp nhận một phần kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk ắk - Sửa ản án s thẩm.

Về án phí dân sự phúc thẩm: Do không chấp nhận kháng cáo nên ị đ n bà Mai Thị N phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm.

Số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm của ông Phạm Xuân S đã nộp được sung công qu Nh nước.

Các quyết định khác của ản án s thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ng y hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ khoản 3 Điều 296, khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015: Áp dụng khoản 2 v khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 158, khoản 1 Điều 161, khoản 2 Điều 162, khoản 1 v khoản 6 Điều 165, khoản 1 Điều 166, điểm khoản 2 Điều 227 v Điều 266 Bộ luật Tố tụng Dân sự; các Điều 131, Điều 137, Điều 256 v Điều 697 Bộ luật Dân sự năm 2005; điểm d khoản 1 Điều 188 uật Đất đai năm 2013; điểm đ Điều 12, khoản 2 Điều 26, điểm khoản 3 Điều 27, tiểu mục 1.1 v điểm c tiểu mục 1.3 mục 1 phần II (Danh mục án phí) Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ng y 30/12/2016 của Ủy an thường vụ Quốc hội.

[1.1] Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của ông Phạm Xuân S.

[1.2] hông chấp nhận kháng cáo của Mai Thị N.

[1.3] Chấp nhận một phần kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk ắk.

Sửa một phần Bản án số: 07/2020/DSST, ng y 16/4/2020, của Tòa án nhân dân huyện Ea Kar, tỉnh Đắk ắk

[2] Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đ n ông Mai Xuân V,

ê Thị L.

[2.1] Tuyên ố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất v t i sản gắn liền với đất giữa ên chuyển nhượng hộ Nguy n Thị T2, ông ê Hồng S1, anh Lê Hoàng D, anh Lê Hoàng T1 v ên nhận chuyển nhượng ông Phạm Xuân S,

Mai Thị N được Ủy an nhân dân xã C chứng thực ng y 18/7/2011 đối với các thửa đất số 4, 5, 6, 233a thuộc tờ ản đồ số 24, 17 với tổng diện tích đất 43505m2 ị vô hiệu.

Buộc ông Phạm Xuân S v

Mai Thị N phải trả cho ông Mai Xuân V, bà Lê Thị L to n ộ diện tích đất v t i sản gắn liền với đất, gồm: Các thửa đất số 4, 5 thuộc ản đồ số 24 (nay l thửa đất số 315, 155 thuộc tờ ản đồ số 73, có tổng diện tích 39086m2), vị trí tứ cận: Đông giáp đường thôn; Tây giáp rẫy c phê của ông Đ1; Nam giáp vườn cao su của ông T4; Bắc giáp vườn cao su của ông Q. Các thửa đất số 6, tờ ản đồ số 24 v thửa đất số 233a, tờ ản đồ số 17 (nay gộp th nh thửa đất số 60 thuộc tờ ản đồ số 74, diện tích 2892m2), vị trí tứ cận: Đông giáp ruộng lúa của ông V1; Tây giáp đường liên thôn; Nam giáp hồ nước của ông T5; Bắc giáp thửa đất của Đ2.

T i sản trên đất gồm: 01(một) nh xây tạm không tô, diện tích sử dụng 30m2; 01(một) sân ê tông có diện tích sử dụng 60,9m2; 2213 cây cao su kinh doanh; 02(hai) cây Na; 01(một) cây Hồng xiêm; 01(một) cây Mít; 01(một) cây B ; 01(một) cây Chanh; 01(một) cây Sung v 01(một) cây Nh u; 01(một) căn nh xây cấp 4 diện tích sử dụng 38,7m2; 01(một) hồ nước có diện tích 742m2 (thuộc thửa đất số 6 nay l thửa đất số 60); 01(một) giếng nước đường kính 01m, sâu 10m v 01(một) cây dừa.

[2.2] Nguyên đ n ông Mai Xuân V,

ê Thị L phải trả cho ông Phạm Xuân S v

Mai Thị N mỗi người ½ giá trị t i sản tạo dựng trên đất với số tiền là 342.621.100đ.

[3] Về chi phí giám định: Ghi nhận việc Nguyên đ n ông Mai Xuân V, bà ê Thị L tự nguyện chịu chi phí giám định l 5.040.000đ (Đã nộp xong).

[4] Chi phi phí xem xét thẩm định v định giá t i sản: Bị đ n ông Phạm Xuân S, Mai Thị N phải chịu 3.200.000đ (Ba triệu hai trăm nghìn đồng) tiền chi phí xem, xét thẩm định tại chỗ v tiền định giá t i sản. Trong đó, mỗi người phải chịu 1.600.000đ (một triệu sáu trăm nghìn đồng).

Buộc ông Phạm Xuân S phải trả cho nguyên đ n ông Mai Xuân V, bà Lê Thị L tiền tạm ứng chi phí xem, xét thẩm định tại chỗ v tiền định giá t i sản số tiền 1.600.000đ (Một triệu sáu trăm nghìn đồng); Mai Thị N phải trả cho nguyên đ n ông Mai Xuân V,

ê Thị L tiền tạm ứng chi phí xem, xét thẩm định tại chỗ v tiền định giá t i sản số tiền 1.600.000đ (Một triệu sáu trăm nghìn đồng).

Áp dụng Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự để tính lãi suất đối với số tiền chậm trả, kể từ khi có đ n yêu cầu của người được thi h nh án.

Các ên có quyền liện hệ với c quan có thẩm quyền để l m các thủ tục sang tên, đổi chủ theo quy định của pháp luật.

[5] Về án phí:

- Án phí dân sự s thẩm: Bị đ n ông Phạm Xuân S v

Mai Thị N phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự s thẩm, trong đó mỗi người phải chịu 150.000đ (Một trăm năm mư i nghìn đồng) tiền án phí.

Nguyên đ n ông Mai Xuân V,

ê Thị L được mi n nộp to n ộ án phí dân sự s thẩm.

- Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Mai Thị N phải chịu 300.000đ án phí dân sự phúc thẩm. Được khấu trừ v o số tiền 300.000đ tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo các iên lai thu số 0006241 ng y 28/4/2020, của Chi cục Thi h nh án dân sự huyện E, tỉnh Đắk ắk. (Do ông Phạm Xuân S nộp thay Mai Thị N).

Sung công qu Nh nước số tiền 300.000đ tạm ứng án phí do ông Phạm Xuân S nộp theo iên lai số 0006240, ngày 28/4/2020, của Chi cục Thi h nh án dân sự huyện E, tỉnh Đắk ắk.

[6] Các quyết định khác của ản án s thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ng y hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[7] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ng y tuyên án.

Trường hợp bản án, Quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ