- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Trọng B phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Trọng B phạm tội “ Trộm cắp tài sản”; Xử pha ̣t bi ̣ cáo Trần Trọng B 01 (một) năm tù giam; thờ i ha ̣n chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt giam thi hành án nhưng được trừ đi thời gian bị tạm giữ trước đó từ ngày 12/02/2019 đến ngày 21/02/2019.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. NHA TRANG TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 131/2019/HS-ST Ngày 17-6-2019 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Viên
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Tỉnh
Ông Lƣu Văn Có
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Tuân – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Lê Hoàng Anh – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 157/2019/TLST-HS ngày 22/4/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 152/2019/QĐXXST-HS ngày 29/5/2019, Quyết định hoãn phiên tòa số 72/2019/HSST – QĐ ngày 11/6/2019 đối vớ i bị cáo:
Trần Trọng B (B Đít Đỏ, Tèo) sinh năm 1975 tại Khánh Hòa; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: 174 KB Cù Lao Th, phường Vĩnh Th, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiê ̣p: Không; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Đức Th (chết năm 2015) và bà Phan Thị M sinh năm 1935;
Tiền án: Bản án số 246/2007/HSST ngày 25/10/2007 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang xử phạt 07 năm tù và sung công quỹ nhà nước 5.000.000đ về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong án phạt tù ngày 30/9/2015, chưa thi hành hình phạt bổ sung và án phí;
Tiền sự: Không;
Nhân thân: Bản án số 45/HSST ngày 06/4/1994 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang xử phạt 09 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, chấp hành xong án phạt tù ngày 20/7/1996.
Quyết định số 2204/QĐ ngày 23/7/2004 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Nha Trang về việc đưa vào sơ sở chữa bệnh, chấp hành xong ngày 24/7/2006.
Bản án số 62/2011/HS-ST ngày 29/3/2011 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tổng hợp với hình phạt chưa chấp hành của bản án số 246/2007/HSST ngày 25/10/2007 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang còn lại là 3 năm 11 tháng tù, tổng cộng là 06 năm 05 tháng tù; chấp hành xong án phạt tù ngày 30/9/2015, đã đóng án phí;
Bị cáo tại ngoại; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Ông Nguyễn Đức Th
Địa chỉ: Tổ 8, Tháp B, phường Vĩnh Ph, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.
Ông Th vắng mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Bà Nguyễn Thị Cẩm T sinh năm 1988
Địa chỉ: 71A Cồn Gi, phường Xương H, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Bà T vắng mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng:
1. Ông Nguyễn Ngọc V, sinh năm 1961. Địa chỉ: 38 Phúc S, phường Vĩnh Ph, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Ông V vắng mặt tại phiên tòa.
2. Ông Phạm Thế H, sinh năm 1984. Nơi cư trú: Tổ 15 Phương M, phường Vĩnh Ph, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Ông H vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 11/02/2019, Trần Trọng B đi bộ từ khu vực Xóm B, phường Vĩnh Th đến khu vực đường Phúc S thuộc tổ 13, Phương M, phường Vĩnh Ph, thành phố Nha Trang thì phát hiện 01 xe máy hiệu Honda Airblade biển kiểm soát 79N1-443.47 của anh Nguyễn Đức Th đang dựng trước cửa hàng tạp hóa Cô Xanh, trên xe có cắm chìa khóa, không người trông coi nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản để bán lấy tiền sử dụng ma túy. B lén lút ngồi lên xe máy, mở khóa, khởi động máy để trộm cắp tài sản thì còi báo động của xe kêu. Nghe có tiếng còi báo động và thấy B đang ngồi trên xe của mình, anh Th đã tri hô, đuổi bắt. Thấy vậy, B xuống xe và bỏ chạy thì bị người dân bắt giữ, giao nộp cho Cơ quan công an cùng vật chứng vụ án.
Cơ quan công an đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Trần Trọng B và tạm giữ vật chứng là 01 xe máy hiệu Honda Airblade biển kiểm soát 79N1-443.47.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 67/HĐĐG ngày 15/02/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Nha Trang kết luận: Xe máy hiệu Honda Air Blade, biểm kiểm soát 79N1-443.47 có giá 18.620.000đ.
- Vật chứng của vụ án: 01 xe máy hiệu Honda Air Blade, biển kiểm soát 79N1-443.47 Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu.
Tại bản cáo trạng số 134/CT-VKSNT ngày 22/4/2019, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa để xét xử đối với bị cáo Trần Trọng B về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáoTrần Trọng B, xử phạt bị cáo B từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù giam. Vật chứng: 01 xe máy hiệu Honda Air Blade, biển kiểm soát 79N1-443.47 Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu nên không xem xét giải quyết; Không xem xét giải quyết việc bồi thường.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án , căn cứ vào các tài liê ̣u trong hồ sơ vụ án đa đượ̃
c tranh tụng ta ̣i phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, bị hại ông Nguyễn Đức Th; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Nguyễn Thị Cẩm T; người làm chứng ông Nguyễn Ngọc V, Phạm Thế H mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do, xét thấy việc vắng mặt của các đương sự có tên trên không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt các ông, bà Nguyễn Đức Th, Nguyễn Thị Cẩm T, Nguyễn Ngọc V, Phạm Thế H theo quy định tại Điều 292, 293 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
. Tại phiên tòa, bị cáo Trần Trọng B đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại; người làm chứng; các chứng cứ, tài liệu đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Cáo trạng số 134/CT-VKSNT ngày 22/4/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang truy tố bị cáo Trần Trọng B về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Hành vi của bị cáo Trần Trọng B là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu của công dân, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an tại địa phương. Bản thân bị cáo có nhân thân xấu, ngày 06/4/1994, Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang xử phạt 09 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, chấp hành xong án phạt tù ngày 20/7/1996; ngày 23/7/2004, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Nha Trang ra Quyết định số 2204/QĐ về việc đưa vào sơ sở chữa bệnh, chấp hành xong ngày 24/7/2006; ngày 29/3/2011, Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tổng hợp với hình phạt chưa chấp hành của bản án số 246/2007/HSST ngày 25/10/2007 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang còn lại là 3 năm 11 tháng tù, tổng cộng là 06 năm 05 tháng tù; chấp hành xong án phạt tù ngày 30/9/2015. Ngày 25/10/2007, Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang xử phạt 07 năm tù và sung công quỹ nhà nước 5.000.000đ về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong án phạt tù ngày 30/9/2015, chưa thi hành hình phạt bổ sung và án phí nên chưa được xóa án tích lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội nên thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015. Do vậy, cần thiết phải xử lý bị cáo thật nghiêm khắc, cách ly khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phát huy hiệu quả phòng ngừa chung trong xã hội.
Trong quá trình điều tra, bị cáo thành khẩn khai báo, tài sản trộm cắp đã trả lại cho chủ sở hữu nên áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Khi B lén lút ngồi lên xe máy, mở khóa, khởi động máy để trộm cắp tài sản thì còi báo động của xe kêu đã bị anh Th phát hiện tri hô, đuổi bắt nên B xuống xe bỏ chạy, xe máy Honda Air Blade, biển kiểm soát 79N1-443.47 vẫn chưa bị dịch chuyển so với vị trí ban đầu. Như vậy, Trần Trọng B đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội nhưng không thực hiện được đến cùng việc chiếm đoạt tài sản là do bị phát hiện bắt quả tang nên Hội đồng xét xử có cơ sở để áp dụng quy định tại Điều 15 Bộ luật hình sự về phạm tội chưa đạt cho bị cáo B.
. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại - ông Nguyễn Đức Th vắng mặt tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
. Về vật chứng của vụ án: 01 xe máy hiệu Honda Air Blade, biển kiểm soát 79N1-443.47 Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu nên không xem xét giải quyết.
. Về án phí: Bị cáo Trần Trọng B phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 15, khoản 3 Điều 57; khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bô ̣ luâ ̣t hinh sự năm 2015, tuyên bố bi ̣ cáo Trần
̀
Trọng B phạm tội “ Trộm cắp tài sản”; Xử pha ̣t bi ̣ cáo Trần Trọng B 01 (một) năm tù giam; thờ i ha ̣n chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt giam thi hành án nhưng được trừ đi thời gian bị tạm giữ trước đó từ ngày 12/02/2019 đến ngày 21/02/2019.
- Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét giải quyết.
- Về vật chứng của vụ án: 01 xe máy hiệu Honda Air Blade, biển kiểm soát 79N1-443.47 Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết;
- Về án phí: Áp du ̣ng Điều 136 Bô ̣ Luâ ̣t Tố tu ̣ng hinh sự năm 2015; Nghị quyết
̀ số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án; Buộc bị cáo Trần Trọng B phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền khá ng cá o bản á n sơ thẩm trong thờ i hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - VKSND TP. Nha Trang; - VKSND tỉnh Khánh Hòa; - Bị cáo; - Các đương sự; - Cơ quan điều tra Công an TP. Nha Trang; - TAND tỉnh Khánh Hòa; - Sở Tư pháp tỉnh Khánh Hòa; - Chi cục THADS TP. Nha Trang; - Lưu án văn, hồ sơ; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phan-Chủ tọa phiên tòa ́ Nguyễn Lê Viên |