vanban.org

Bản án 131/2018/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 16/10/2018 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 16/10/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự.

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo sửa bản án hình sự sơ thẩm. [2] Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn A phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn A phạm tội "Cố ý gây thương tích" - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa…"
  • Tòa quyết gì? [1] Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 131/2018/HS-PT
Ngày: 16-10-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Đình Thông

Các Thẩm phán: Ông Trần Hồng Hải

Ông Hồ Đức Quang

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Thuần, thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Tâm - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 109/2018/TLPT-HS ngày 04 tháng 9 năm 2018 đối với bị cáo Nguyễn Văn A do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 14/2018/HS-ST ngày 27/7/2018 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Hà Tĩnh.

- Bị cáo kháng cáo:

Nguyễn Văn A, Sinh ngày: 12/6/1998; nơi đăng ký HKTT và chổ ở: Thôn 2, xã P, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H (đã mất) và bà Phạm Thị L; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại tại địa phương, có mặt tại phiên tòa.

Trợ giúp viên pháp lý tham gia bào chữa cho bị cáo: Bà Trịnh Diệu Oanh - Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước.

Vụ án còn có người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập tham gia phiên tòa phúc thẩm.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 21 giờ 30 phút ngày 12/02/2018, tại quán bi a của chị Hoàng Thị H, ở thôn 5, xã P, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh, khi Nguyễn Văn A đang xem đánh bi a thì Nguyễn Thừa H đi đến và hỏi Nguyễn Văn A từ đâu tới, Nguyễn Văn A trả lời là “Em ở trên này”. Không bằng lòng với câu trả lời đó, Nguyễn Thừa H đã dùng tay đấm Nguyễn Văn A. Để tránh rắc rối, Nguyễn Văn A đã lấy xe máy chạy sang quán bi a T ở gần đó nhưng Nguyễn Thừa H vẫn lấy xe máy đuổi theo sang quán bi a T và đánh Nguyễn Văn A nên Nguyễn Văn A đã dùng dao đâm Nguyễn Thừa H gây thương tích phải đi bệnh viện cấp cứu và điều trị. Hậu quả, theo bệnh án điều trị và Bản kết luận giám định Pháp Y số 20 cùng ngày 27/02/2018 của Trung tâm Pháp Y Hà Tĩnh kết luận: Nguyễn Thừa H bị 05 vết thương với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 13%.

Với hành vi phạm tội trên, tại bản án số: 14/2018/HS-ST ngày 27/7/2018 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Hà Tĩnh đã Quyết định:

Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn A phạm tội “Cố ý gây thương tích"

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn A 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.

Án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Trong hạn luật định, ngày 09/8/2018 bị cáo có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo bổ sung là xin được hưởng án treo. Bị cáo đã khai và thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo đúng như nội dung của bản án sơ thẩm.

Kiểm sát viên thực hành quyền công tố xét xử phúc thẩm vụ án sau khi phân tích đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm điểm e khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự giảm cho bị cáo 03 tháng tù.

Trợ giúp viên pháp lý sau khi phân tích đã đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo, cải tạo tại địa phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Theo lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy hành vi phạm tội của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành của tội “Cố ý gây thương tích” được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự. Theo đó bản án hình sự sơ thẩm số 14/2018/HS-ST ngày 27/7/2018 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Hà Tĩnh quyết định tuyên bố bị cáo phạm tội “Cố ý gây thương tích” là đúng người, đúng tội, có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo đã sử dụng dao là hung khí nguy hiểm, tấn công người bị hại. Hậu quả làm cho người bị hại bị thương tích 13%.

Cấp sơ thẩm đã cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và áp dụng thêm Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo dưới khung hình phạt là cũng đã xem xét cho bị cáo.

Tuy nhiên, qua các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ đều thể hiện sau khi bị hại gây sự và đánh bị cáo, bị cáo đã bỏ đi sang quán khác để tránh rắc rối nhưng bị hại vẫn lấy xe máy đuổi theo và đánh bị cáo. Trong trường hợp này Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm xét thấy hành vi vô cớ đánh người và đuổi theo để đánh người của bị hại như vậy là trái pháp luật, với diễn biến của sự việc xẩy ra thì bị cáo đã bị kích động về tinh thần nhưng cấp sơ thẩm không cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm e khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự là còn thiếu sót, cấp phúc thẩm xét thấy cần áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ này đối với bị cáo. Sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo xuất trình thêm cho Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của chính quyền địa phương.

Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có thêm tình tiết giảm nhẹ mới, từ trước đến nay luôn chấp hành tốt pháp luật, có nơi cư trú rõ ràng, đây là lần đầu bị cáo phạm tội, thành khẩn khai báo, sau khi sự việc xảy ra bị cáo đã trực tiếp đưa người bị hại đi cấp cứu và sau đó đã đến cơ quan Công an huyện C đầu thú về hành vi phạm tội của mình. Hoàn cảnh gia đình bị cáo hiện nay hết sức khó khăn, là hộ cận nghèo, bị cáo là lao động chính trong gia đình, bố đã mất, mẹ thường xuyên đau ốm. Sau khi phạm tội cũng đã tự nguyện bồi thường đầy đủ thiệt hại cho người bị hại, bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, chính quyền địa phương cũng có đề nghị. Vì vậy, xét không cần thiết phải xử cách ly đối với bị cáo mà cần giữ nguyên mức hình phạt, cải biện pháp thi hành án, cho bị cáo được hưởng án treo, cải tạo tại địa phương tạo điều kiện cho bị cáo giúp đỡ gia đình là cũng đủ nghiêm để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

Bị cáo kháng cáo được chấp nhận nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

[1] Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự.

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo sửa bản án hình sự sơ thẩm.

[2] Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn A phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s, e khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Nguyễn Văn A 18 (mười tám) tháng tù, cho cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (16/10/2018), giao bị cáo cho UBND xã P, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Nếu trong thời gian thử thách bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo khoản 1 điều 69 luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước đó và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại điều 56 của Bộ luật Hình sự.

[3] Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 bị cáo không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.

[4] Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ