vanban.org

Bản án 131/2018/DS-PT — Tranh chấp về thừa kế tài sản

TAND tỉnh An Giang Tuyên án 04/07/2018 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 04/07/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

I/ Không chấp nh n yêu cầu kháng cáo của ông Trần Văn L và ông Trần

Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 139/2017/DS-ST ngày 28 tháng 12 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện C. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thừa kế tài sản — án dân sự — "L và S tranh chấp thừa kế"
  • Tòa quyết gì? I/ Không chấp nh n yêu cầu kháng cáo của ông Trần Văn L và ông Trần
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 131/2018/DS-PT
Ngày: 04 - 7 - 2018
V/v: “Tranh chấp thừa kế”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Ngọc Linh

Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Thúy Hà

Ông Nguyễn Văn Sơn

- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Bùi Thị Lan - Thư ký Tòa án nhân

dân tỉnh An Giang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Ngọc Bình – Kiểm sát viên

Trong ngày 04 tháng 7 năm 2018 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh An

Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 70/2018/TLPT-DS ngày 03 tháng 5 năm 2018 về việc: “Tranh chấpthừa kế”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 139/2017/DS-ST ngày 28 tháng 12 năm

2017 của Tòa án nhân dân huyện C bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 149/2018/QĐ-PT

ngày 28 tháng 5 năm 2018, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Trần Văn L, sinh năm 1964,

Cư trú: p Q, xã B, huyện C, tỉnh An Giang – Có mặt.

Đại diện theo ủy quyền của ông Trần Văn L là ông Trần Ngọc A, sinh

năm 1949 – Có mặt.

Cư trú: p hú Thư ng 1, x Kiến An, huyện C, tỉnh An Giang.

- Bị đơn: Bà Trần Thị S, sinh năm 1972,

Cư trú: p Q, xã B, huyện C, tỉnh An Giang – Có mặt.

- Ng i c quy n l i ngh a v liên quan:

1. Ông Trần Văn H, sinh năm 1953;

Cư trú: p Q, xã B, huyện C, tỉnh An Giang – Có mặt.

Đại diện theo ủy quyền của ông Trần Văn H là ông Trần Ngọc A, sinh

năm 1949 – Có mặt.

Cư trú: p hú Thư ng 1, x Kiến An, huyện C, tỉnh An Giang.

2. Cụ Nguyễn Thị D, sinh năm 1927. Đại diện theo ủy quyền của cụ D là

bà Trần Thị S, sinh năm 1972;

3. Bà Trần Thị H, sinh năm 1957;

4. Bà Trần Thị K, sinh năm 1956;

5. Bà Trần Thị G, sinh năm 1965;

6. Bà Trần Thị M, sinh năm 1963,

Cùng trú tại p Q, xã B, huyện C, tỉnh An Giang – Có mặt.

- Ng i kháng cáo: nguyên đơn Trần Văn L và người có quyền l i, nghĩa vụ liên quan Trần Văn H.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

+ Nguyên đơn: Ông Trần Văn L trình bày: Cụ Trần Văn G, sinh năm 1928 chết năm 2012 và cụ Nguyễn Thị D, sinh năm 1927 tạo dựng đư c tài sản g m: 01 căn nhà sàn b ng g thao lao, ngang kể cả thông hành là 7m, dài kể cả nhà sau là 20m, l p ngói và phần đất th cư ngang 10m, dài 90m; 5100 m 2 đất lúa 3 vụ; tất cả tọa lạc tại ấp Long Qu i 2, x B, huyện C, An Giang. Hai cụ có 8 người con g m: Ông Trần Văn H, sinh năm 1953; Bà Trần Thị H, sinh năm 1957; Bà Trần Thị K, sinh năm 1956; Bà Trần Thị G, sinh năm 1965; Bà Trần Thị M, sinh năm 1963; Ông Trần Văn L, sinh năm 1964; Bà Trần Thị S, sinh năm 1972; ông Trần Văn F không r năm sinh, bệnh tâm thần chết ngày 27.11.2015, không có v ,con .

Cụ G chết năm 2012, trư c khi chết ngày 18.6.2007 hai cụ có đến y ban

nhân dân x B l p di chúc, có ch ng thực của y ban nhân dân x , n i dung di chúc thể hiện:

1. Trần Văn H, đ có v đư c cho 04 cây vàng 24k và cất nhà riêng tại ấp

Q, x B, huyện C, tỉnh An Giang.

2. Trần Thị K, đ có ch ng, có nhà riêng ngụ ấp Q, x B, huyện C, tỉnh

An Giang.

3.Trần Thị H đ có ch ng, có nhà riêng ngụ tại x S, huyện C, tỉnh An

Giang.

4.Trần Văn X, đ c thân, bệnh tâm thần, sống chung gia đình Nay đ

chết .

5.Trần Thị M đ có ch ng, có nhà riêng ngụ ấp Q, x B, huyện C, tỉnh An

Giang.

6.Trần Văn L, đ có v và đư c cho m t miếng đất th cư để cất nhà

riêng tại ấp Q, x B, huyện C, tỉnh An Giang.

7. Trần Thị G có ch ng và đư c cho m t miếng đất th cư để cất nhà

riêng tại ấp Q, x B, huyện C, tỉnh An Giang.

8. Trần Thị S, đ có ch ng, sống chung cha m tại nhà đư c thừa hưởng

và trọn quyền quyết định 01 căn nhà sàn b ng g thao lao, ngang kể cả thông hành là 7m, dài kể cả nhà sau là 20m, l p ngói và phần đất th cư ngang 10m, dài 90m; 5100 m2 đất lúa 3 vụ để hai cụ thu huê l i hưởng già , sau khi m n phần s làm hương h a để lại cho Trần Thị S tiếp tục chăm lo canh tác tạo hoa l i thờ cúng ông bà cha m và tu b nhà cửa.

Theo n i dung tờ di chúc ông L đ nh n m t miếng đất th cư nhưng ông

cất nhà và cho con ông. Nay ông Trần Văn L yêu cầu hủy tờ di chúc hai cụ l p ngày 20.6.2006, ông yêu cầu chia thừa kế phần tài sản bà Trần Thị S đang giữ, ông là con trai nên yêu cầu đư c ở trong căn nhà và giao trả tiền cho các thừa kế khác theo giá H i đ ng định giá đ định.

Ngoài ra trong đơn khởi kiện ông L còn yêu cầu chia đất r y ngang 10m x

dài 150m tọa lạc tại ấp Long Qu i 2, x B, huyện C, An Giang do bà Trần Thị S và ông hạm Văn Y đang đ ng tên giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất số H.00957/CB diện t ch 1096 m2. Ngày 25.3.2017 ông L rút yêu cầu đối v i phần đất này.

+ Bị đơn: Bà Trần Thị S, trình bày: Bà là con gái sống chung nuôi dư ng

cha m , khi có ch ng v n sống chung chăm sóc nuôi dư ng cha m , di chúc cha m bà l p ngày 20.6.2006 là do ý ch của cha m , bà không đ ng ý chia theo yêu cầu của ông L.

+ Người có quyền l i nghĩa vụ liên quan:

Cụ Nguyễn Thị D, trình bày: Hai cụ có 8 người con, chết m t người như

ông L trình bày. Tài sản tạo dựng đư c đ chia cho các con như trong tờ di chúc l p, đây là ý ch của hai cụ. hần còn lại của con gái út Trần Thị S, cụ không đ ng ý cho L sống trong nhà vì không hiếu thảo, không chăm sóc cụ, nay cụ ông đ chết, cụ v n giữ y tờ di chúc đ l p, do già yếu nên cụ ủy quyền lại cho S.

Bà Trần Thị H, bà Trần Thị K, bà Trần Thị G, bà Trần Thị M, trình bày:

Chúng tôi đều là con cụ G và cụ D, cha m l p tờ di chúc phân chia chúng tôi không có yêu cầu gì khác. Em gái chúng tôi là S nuôi dư ng chăm sóc, hiếu thảo v i cha m căn nhà trên cha m tôi giao cho S là phù h p.

Ông Trần Văn H, trình bày: Cha m ông là cụ G và cụ D, tờ di chúc hai cụ

l p ngày 20.6.2006 trong đó ông đ nh n 4 cây vàng 24k như trong di chúc. Nay ông yêu cầu hủy tờ di chúc và chia thừa kế phần tài sản Trần Thị S đang giữ cho ông. Ông yêu cầu chia di sản thừa kế theo quy định.

* Tại bản án dân sự sơ thẩm số 139/2017/DS-ST ngày 28 tháng 12 năm

2017 của Tòa án nhân dân huyện C đ quyết định:

Không chấp nh n yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn L, ông Trần Văn H

về việc hủy tờ di chúc ngày 20.6.2006 của cụ Trần Văn G, cụ Nguyễn Thị D và yêu cầu chia thừa kế theo pháp lu t của ông Trần Văn L và ông Trần Văn H.

Ngoài ra, án còn tuyên về án phí; chi phí tố tụng; quyền kháng cáo; quyền

thi hành án và thời hiệu thi hành án của các bên đương sự.

Cùng ngày 10/01/2018, ông Trần Văn L và ông Trần Văn H có đơn kháng

cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giải quyết lại toàn b n i dung bản án sơ thẩm và yêu cầu hủy tờ di chúc ngày 20/6/2006 của bà Nguyễn Thị Duyên và ông Trần Văn G. Yêu cầu chia thừa kế của cha là ông Trần Văn G cho hàng thừa kế th nhất b ng nhau và xin nh n di sản của cha b ng hiện v t.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn trình bày: V n giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu

kháng cáo.

Người có quyền l i nghĩa vụ liên quan Trần Văn H, trình bày: V n giữ

nguyên yêu cầu kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên tòa phát biểu: Việc tuân

theo pháp lu t tố tụng của Thẩm phán, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án đúng quy định pháp lu t. Đề nghị H i đ ng xét xử cấp phúc thẩm Tòa án nhân dân tỉnh An Giang căn c khoản 1 Điều 308 B lu t Tố tụng dân sự năm 2015, tuyên xử: Không chấp nh n yêu cầu kháng cáo của ông Trần Văn L và Trần Văn H; Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm 139/2017/DS-ST ngày 28 tháng 12 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện C.

Sau khi nghiên c u các tài liệu, ch ng c có trong h sơ vụ án đư c thẩm

tra tại phiên tòa, căn c kết quả tranh lu n tại phiên tòa và nghe lời phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, H i đ ng xét xử xét thấy,

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Về quan hệ pháp lu t, về thẩm quyền xét xử như nh n định

của Tòa án cấp sơ thẩm là hoàn toàn đúng quy định của B lu t Tố tụng dân sự năm 2015.

Ngày 28/12/2017, Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh An Giang mở phiên tòa

xét xử sơ thẩm vụ án dân sự “Tranh chấp thừa kế” giữa nguyên đơn ông Trần Văn L v i bị đơn bà Trần Thị Suốt theo bản án số 139/2017/DS-ST. Đến ngày 10/01/2018, nguyên đơn ông Trần Văn L và người có quyền l i, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn H có đơn kháng cáo bản án. Xét về thời hạn kháng cáo, người có quyền kháng cáo đ đảm bảo theo đúng qui định tại Điều 271, 272, 273 của B lu t Tố tụng dân sự năm 2015, nên thẩm quyền giải quyết phúc thẩm thu c Tòa án nhân dân tỉnh An Giang theo điểm b khoản 1 Điều 38 của B lu t Tố tụng dân sự năm 2015.

Về n i dung: Ông Trần Văn L và ông Trần Văn H khởi kiện yêu cầu

hủy tờ di chúc ngày 20.6.2006 của cụ Trần Văn G, cụ Nguyễn Thị D và yêu cầu chia thừa kế của cụ G cho hàng thừa kế th nhất của cụ G b ng nhau và ông L xin nh n di sản b ng hiện v t. Sau khi án sơ thẩm xét xử không chấp nh n yêu cầu khởi kiện của ông L và ông H; ông L và ông H kháng cáo.

H i đ ng xét xử xét:

Tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm các đương sự Trần Thị M p,

Trần Thị Sáng, Trần Thị Suốt và Trần Thị Chúm đều thống nhất trình bày tờ di chúc ngày 20/6/2006 là do cha m 02 cụ Trần Văn G và Nguyễn Thị D) l p ra, đư c y ban nhân dân x Long Điền B, huyện C xác nh n ngày 18/6/2007; cũng như tại biên bản ghi lời khai ngày 31 tháng 10 năm 2016 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh An Giang thì cụ Nguyễn Thị D cũng khai nh n việc l p tờ di chúc trên. Mặc dù trong di chúc có sự sai lệch về tên của người l p di chúc như: “Nguyễn Thị Duyên – sinh năm 1928” so v i “Nguyễn Thị D – sinh năm 1927” và “Trần Văn G – sinh năm 1928” so v i “Trần Văn G – sinh năm 1925” nhưng n i dung cơ bản của di chúc trên không trái v i quy định tại Điều 653, Điều 652 B lu t Dân sự 2005; không có ch ng c xác định có sự lừa dối, cư ng ép, đe dọa đ ng thời đư c y ban nhân dân x Long Điền B, huyện C xác nh n ngày 18/6/2007. Do đó di chúc do 02 cụ Trần Văn G và Nguyễn Thị D l p ngày 20/6/2006 là h p pháp nên Tòa án nhân dân huyện C bác yêu cầu của ông Trần Văn L và Trần Văn H về việc yêu cầu hủy di chúc trên là có căn c .

Do di chúc của v ch ng cụ Trần Văn G và Nguyễn Thị D l p năm

2006, đ ng thời cụ G mất năm 2012 nên áp dụng quy định của B lu t Dân sự năm 2005 để giải quyết tranh chấp. Tại Điều 668 B lu t Dân sự 2005 quy định:

“Điều 668. Hiệu lực pháp lu t của di chúc chung của v , ch ng

Di chúc chung của v , ch ng có hiệu lực từ thời điểm người sau cùng chết

hoặc tại thời điểm v , ch ng cùng chết.”. Hiện tại cụ D còn sống nên di chúc chung của v ch ng cụ G và cụ D chưa phát sinh hiệu lực. Do đó Tòa án nhân dân huyện C bác yêu cầu chia di sản thừa kế của các đương sự là có căn c .

Tại phiên tòa hôm nay, người kháng cáo không cung cấp đư c ch ng c

để ch ng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình nên không có cơ sở để H i đ ng xét xử cấp phúc thẩm xem xét yêu cầu kháng cáo của bà mà nghĩ nên giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Đối v i việc nguyên đơn cho r ng bản án không ghi đại diện Viện kiểm

sát tham gia phiên tòa là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Xét thấy tại Biên bản phiên tòa thể hiện có đại diện Viện kiểm sát tham gia nhưng bản án phát hành không nêu, đây là l i kỹ thu t đánh máy, in ấn nên Tòa án cấp sơ thẩm có Văn bản đ nh ch nh bản án kịp thời để gửi cho người tham gia tố tụng và các cơ quan có liên quan khác. Đây không phải là vi phạm thủ tục tố tụng nhưng cấp Sơ thẩm cần rút kinh nghiệm để tránh thiếu sót tương tự.

Về án ph :

Do yêu cầu kháng cáo không đư c cấp phúc thẩm chấp nh n nên người

kháng cáo phải chịu án ph phúc thẩm. Tuy nhiên do ông Trần Văn H là người cao tu i nên đư c miễn tiền án ph phúc thẩm.

Vì các l trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng:

+ Khoản 1 Điều 308 của B lu t Tố tụng dân sự;

I/ Không chấp nh n yêu cầu kháng cáo của ông Trần Văn L và ông Trần

Văn H.

Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 139/2017/DS-ST ngày 28 tháng 12

năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện C.

Căn c các Điều 648,650, 663, 668 B lu t Dân sự năm 2005.

Căn c các Điều 26, 35, 39, 146, 147, 157, 158, 228, 273 B lu t Tố tụng

dân sự;

Căn c vào Điều 26; Điều 27; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số

26/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của y ban thường vụ Quốc H i về m c thu, miễn, giảm, thu, n p, quản lý và sử dụng án ph và lệ ph Tòa án.

1. Không chấp nh n yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn L, ông Trần Văn

H về việc hủy tờ di chúc ngày 20.6.2006 của cụ Trần Văn G, cụ Nguyễn Thị D và yêu cầu chia thừa kế theo pháp lu t của ông Trần Văn L và ông Trần Văn H.

2. Về lệ ph định giá, đo đạc 2.646.900đ (Hai triệu sáu trăm bốn mươi sáu

nghìn chín trăm đ ng ông Trần Văn L phải chịu. Ông L đ n p đủ chi ph này.

3. Về án phí: Ông Trần Văn L phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đ ng

đư c trừ vào tiền tạm ng án ph ông đ n p 2.500.000đ ng theo Biên lai thu số 0004580 ngày 13.10.2016 của Chi cục thi hành án dân sự huyện C, tỉnh An Giang. Ông L đư c nh n lại 2.200.000đ Hai triệu hai trăm nghìn đ ng .

Ông Trần Văn H đư c miễn tiền án ph .

II/ Về án ph dân sự phúc thẩm: Ông Trần Văn L phải chịu 300.000đ tiền

án ph dân sự phúc thẩm, đư c trừ vào 300.000đ tiền tạm ng án ph phúc thẩm đ n p theo biên lai thu số 0019094 ngày 10 tháng 01 năm 2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện C.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp lu t kể từ ngày tuyên án.

Trường h p bản án đư c thi hành theo quy định tại Điều 2 Lu t thi hành

án dân sự thì người đư c thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền th a thu n thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cư ng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Lu t Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đư c thực hiện theo quy định tại Điều 30 Lu t Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ