vanban.org

Bản án 131/2017/HSST — Hình sự

TAND huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh Tuyên án 25/09/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân Tr phạm tội “Tàng trữ, mua bán trá i phé p chấ t ma tú y”; bị cáo Nguyễn Quang T phạm tộ i “ Mua bá n trá i phé p chấ t ma tú y”

Áp dụng điể m b khoản 2, khoản 5 Điều 194, điểm p khoản 1, (khoản 2 đố i vớ i bị cá o Tuyề n ), Điều 46, Điều 33, Điề u 41 Bộ luậ t hì nh sự . Điều 76, Điề u 99, Điều 228 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Xử phạ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Xuân Tr TTMBTPCMT - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân Tr phạm tội “Tàng trữ, mua bán trá i phé p chấ t ma tú y”; bị cáo Nguyễn Quang T phạm tộ i “ Mua bá n trá i phé p chấ t ma tú y”
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TIÊN DU
TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:131/2017/HSST
Ngày 25/9/2017

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN DU

Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễ n Trọ ng Trườ ng

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Xuân

Bà Đào Thị Thu

Nhƣ̃ ng ngƣờ i tiế n hà nh tố tụ ng khá c tạ i phiên tò a:

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Trầ n Văn Quang - Thẩ m tra viên

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên toà: Ông Lê Mạnh Tuấn - Kiểm sát viên

Hôm nay, ngày 25 tháng 9 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyệ n Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 132/2017/TLST-HS ngà y 08/9/2017 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 132/2017/HSST-QĐ ngà y 11/9/2017 đối với cá c bị cáo:

1. Nguyễn Xuân Tr, sinh năm 1988.

STQ: X, phườ ng V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh.

Trình độ học vấn: 09/12;

Nghề nghiệp: Lao động tự do.

Con ông Nguyễn Xuân Gi, sinh năm 1959;

Con bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1961;

Gia đì nh có 03 anh, chị em, bị cá o là thứ 3.

Có vợ Nguyễn Thị H, sinh năm 1990;

Có 02 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2015.

Tiền án: Không.

Tiền sự: Ngày 10/11/2016 bị áp dụng biện pháp giáo dục tại cấp xã, phường, thị trấn trong thời hạn 03 tháng. Ngày 11/02/2017 chấp hành xong.

Bị cá o bị tạm giữ , tạm giam t ừ ngày 21/6/2017 cho đế n nay. Hiệ n đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh – Có mặt tại phiên tòa.

2. Nguyễn Quang T, sinh năm 1990.

STQ: Thôn T, xã P, huyệ n T, tỉnh Bắc Ninh.

Trình độ học vấn: 11/12;

Nghề nghiệp: Lao động tự do.

Con ông Nguyễn Quang T, sinh năm 1960;

Con bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1964;

Gia đì nh có 03 anh chị em, bị cá o là thứ 3.

Vợ, con: Chưa có.

Tiền án, tiền sự,: Không.

Bị cá o bị tạm giữ , tạm giam t ừ ngày 21/6/2017 cho đế n nay. Hiệ n đang tạ m giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh – Có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1/ Chị Vũ Thị H, sinh năm 1991 (Vắ ng mặ t)

Đị a chỉ:Khu P, phườ ng V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh

2/ Anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1997(Có mặ t)

3/ Anh Lưu Đình H, sinh năm 1996(Có mặ t)

Cùng địa chỉ: Thôn Đ, xã P, huyệ n T, tỉnh Bắc Ninh

4/ Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1995(Vắ ng mặ t)

Đị a chỉ : Thôn H, xã L, huyệ n T, tỉnh Bắc Ninh

5/ Công ty TNHH T

Địa chỉ: Khu D, phườ ng P, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh

Đạ i diệ n theo phá p luậ t: Anh Ngô Văn L, sinh năm 1991

Đạ i diệ n theo ủ y quyề n: Anh Ngô Văn H, sinh năm 1987 (Vắng mặ t)

Đị a chỉ : Khu D, phườ ng P, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh

NỘ I DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án

được tóm tắt như sau:

Trưa ngày 21/6/2017, Nguyễn Xuân Tr điều khiển xe máy Yamaha Sirius BKS: 99G1- 392.77 mang theo 02 gói ma túy và một bộ dụng cụ sử dụng ma túy tổng hợp đến nhà nghỉ Y ở thôn L, thị trấn L, huyệ n T thuê phò ng 203. Sau khi chia 02 gói ma túy thành 13 gói, Tr gọi điện thoại rủ Vũ Thị H, Nguyễn Quang T đến. Lát sau có Nguyễn Văn D sử dụng điệ n thoại Asus T 00J liên lạ c vào điện thoại Iphone 6 của Tr hỏi mua 300.000 đồng ma túy để sử dụng. Tr đồng ý rồ i lấ y 01 gói ma tú y đưa cho T mang bán cho D. T sử dụng điện thoại Viettel liên lạ c vớ i D, sau đó điều khiển xe máy màu đỏ không gắn biển kiểm soát bán cho D và Lưu Đình H tại cánh đồng thôn L, thị trấn L 01 gói ma túy, thu 300.000 đồng. Số tiền trên T đưa cho Tr. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, Nguyễn Văn H liên lạc với T hỏi mua “5 nước” và “2 ngựa” (Có nghĩa là 500.000 đồng tiền ma túy đá và 2 viên ma túy tổng hợp dạng viên nén). Tr nói với T là chỉ có “nước” không có “ngựa”, sau đó đưa cho T 01 gói ma túy để bán cho Hùng và 01 gói ma túy cho T sử dụng. T điều khiển xe máy Yamaha Sirius, BKS 99G1- 392.77 đến ngã tư thị trấn L bán ma túy cho H 01 gói ma túy, thu 500.000 đồng. Đúng lúc này, Công an huyện Tiên Du bắt quả tang, thu giữ củ a H tại lòng bàn tay phải 01 vỏ bao thuốc lá hiệu Craven bên trong có 01 gói bọc ngoài bằng túi nilon màu trắng, bên trong chứa tinh thể màu trắng (ký hiệu M1). Thu giữ củ a T tại lòng bàn tay trái 01 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, 01 điện thoại di động hiệu Nokia 105 mở nắp sau có 01 gói bên ngoài bọc bằng túi nilon màu trắng, bên trong có chứa tinh thể màu trắng (ký hiệu M2), 01 điện thoại di động Vietel, 01 xe má y Yamaha Sirius BKS: 99G1- 392.77. Sau đó Cơ quan Công an đã đưa T và H cùng tang vật về trụ sở Công an thị trấn L để làm việc và tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Khoảng 15 giờ cùng ngày, Công an huyện Tiên Du phối hợp với Công an thị trấ n L tiến hành kiểm tra và bắt quả tang tại phòng 203 nhà nghỉ Y, Nguyễn Xuân Tr và Vũ Thị H đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy . Cơ quan Công an thu giữ củ a Tr trên mặt giường trong phòng nghỉ 01 hộp nhựa màu đỏ bên trong có 10 gói bên ngoài bọc bằng túi ni lon màu trắng, bên trong chứa tinh thể màu trắng (ký hiệu M1); 01 điện thoại di động Nokia 105; 01 điện thoại di động Iphone 6; 3.800.000 đồng, 01 một bộ dụng cụ sử dụng ma túy tổng hợp ; 01 máy lửa ga. Thu giữ củ a H 01 túi sách màu đen, 01 khẩu trang bên trong có 01 gói bên ngoài bọc bằng tú i ni lon màu trắng, bên trong chứa tinh thể màu trắng (ký hiệu M2). Sau đó, Cơ quan Công an đã đưa Tr và H cùng tang vật về trụ sở Công an thị trấn L để làm việc và tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Cùng ngày 21/6/2017, Công an huyện Tiên Du đã ra quyết định trưng cầu giám định đố i với các mẫu vật thu giữ được của T, H, Tr và H. Tại bản kết luận giám định số 871/ KLGĐ - PC54, ngày 22/6/2017 của Phò ng kỹ thuật hì nh sự Công an tỉnh Bắc Ninh, kết luận:

- Chất tinh thể màu trắng bên trong phong bì thư kí hiệu (M1) thu giữ của Nguyễn Văn H có trọng lượng 0,3073 gam; là ma tú y loại chất Methamphetamine.

- Chất tinh thể màu trắng bên trong phong bì thư ký hiệu (M2) thu giữ của Nguyễn Quang T có trọng lượng 0,1602 gam; Là ma túy; loại ma tú y : chất Methamphetamine.

Tại bản kết luận giám định số 872/ KLGĐ - PC54, ngày 22/6/2017 của Phòng kỹ thuật hì nh sự Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận:

- Chất tinh thể màu trắng bên trong phong bì thư kí hiệu (M1) thu giữ của Nguyễn Xuân Tr có trọng lượng 1,6706 gam; là ma tú y , loại ma tú y : chất Methamphetamine.

- Chất tinh thể màu trắng bên trong phong bì thư ký hiệu (M2) thu giữ của Vũ Thị H có trọng lượng 0,2992 gam; Là ma tú y ; loại ma tú y : chất Methamphetamine.

Cáo trạng số 97/CTr- VKS ngày 07/9/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyệ n Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Tiên Du để xét xử các bị cáo Nguyễn Xuân Tr về tội “Tà ng trữ , mua bán trá i phé p chấ t ma túy” theo điểm b khoản 2 Điề u 194 Bộ luậ t hì nh sự ; truy tố Nguyễ n Quang T về tộ i “ Mua bá n trá i phé p chấ t ma tú y” theo điể m b khoả n 2 Điề u 194 Bộ luậ t hì nh sự .

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Tr khai nhận: Khoảng 20 giờ ngày 20/6/2017, tại khu vực bến xe thành phố B, bị cáo đã mua của một người phụ nữ không quen biết 02 gói ma túy với giá 1.100.000 đồng. Sáng hôm sau bị cáo mang 02 gói ma túy trên và một bộ dụng cụ sử dụng ma túy tổng hợp đến phòng 203 nhà nghỉ Y ở thôn L, thị trấn L. Tại đây bị cáo chia 02 gói ma túy thành 13 gói nhỏ, phần cò n lại cho vào chiếc coóng thủy tinh gắn trên bộ dụng cụ sử dụng ma túy để sử dụng. Bị cáo cất 13 gói ma tú y vào trong hộp nhựa màu đỏ với mục đích để sử dụng dần và có người mua thì bán kiếm lời . Sau đó bị cáo gọi cho T và H đến chỗ bị cáo thuê phòng để sử dụng ma túy. Khoảng 12 giờ cù ng ngày có Nguyễn Văn D liên lạ c vớ i bị cáo hỏi mua 300.000 đồ ng ma tú y. Bị cáo đưa cho T 01 gói ma túy mang bán cho D. Chiề u cù ng ngà y T nói với bị cáo có người muốn mua 500.000 đồng ma túy và 2 viên ma túy tổng hơp, do không có viên ma túy tổng hợp nên bị cáo đưa 01 gói ma tú y cho T mang đi bá n cho khá ch và 01 gói nhỏ cho T sử dụ ng. Khoảng 15 giờ cùng ngày bị cáo và H đang ở phò ng trọ thì Công an kiể m tra, thu giữ củ a bị cá o 01 hộp nhựa màu đỏ bên trong có 10 gói ma túy, 02 chiế c điệ n thoạ i, 3.800.000 đồ ng và một số dụng cụ sử dụng ma túy.

Bị cáo T trình bày tại phiên tòa: Ngày 21/6/2017 bị cáo Tr gọi bị cáo đến nhà nghỉ Y chơi và sử dụng ma túy . Sau đó bị cá o Tr đưa cho bị cá o 01 gói ma túy để mang bán cho D. Tại cánh đồng thôn L, thị trấn L bị cáo bán cho D 01 gói ma túy vớ i giá 300.000 đồ ng. Sau đó có H gọi cho bị cáo hỏi mua ma túy với giá 500.000 đồ ng. Bị cáo Tr đưa bị cáo 02 gói ma túy để bán cho H 01 gói và cho bị cáo 01 gói sử dụ ng. Bị cáo mang bán cho H tại ngã tư thị trấn L đượ c 500.000 đồ ng. Đú ng lú c này lự c lượ ng Công an phát hiện và bắt giữ. Bị cáo bị thu giữ 500.000 đồ ng, 01 gói ma tú y bị cáo dấu trong nắp pin điện thoại di động Nokia 105, 01 chiế c xe má y, 02 điệ n thoạ i. Toàn bộ số ma túy bị cáo mang đi bán là của bị cáo Tr đưa cho bị cáo. Tiề n bá n ma tú y bị cá o đưa bị cá o Tr , thỉnh thoảng bị cáo Tr cho sử dụ ng ma tú y không mấ t tiề n.

Ngườ i có quyề n lợ i ng hĩa vụ liên quan Nguyễn Văn D và Lưu Đình H trình bày: Do có nhu cầu sử dụng chất ma túy nên ngày 21/6/2017 D liên lạc với bị cáo Tr hỏi mua ma túy. D và H mỗi người góp 150.000 đồng mua 01 gói ma túy T bán cho tại cánh đồng thôn L, sau đó cả hai sử dụng hết.

Nguyễn Văn H trình bày tại cơ quan điều tra: Chiều ngày 21/6/2017 H có gọi điện hỏi mua ma túy của T sau đó cả hai hẹn giao ma túy tại ngã tư thị trấn L , H mua củ a T 01 gói ma túy trị giá 500.000 đồ ng. Khi vừ a giao nhậ n tiề n và ma tú y thì bị Công an phát hiện bắt quả tang.

Ngườ i có quyề n lợ i nghĩ a vụ liên quan H vắ ng mặ t, lờ i khai tạ i cơ quan điề u tra thể hiệ n: Sáng ngày 21/6/2017 Hồ ng có đến nhà nghỉ Y gặ p bị cá o Tr sau đó có sử dụ ng ma tú y. Quá trình sử dụng ma túy H không biế t việ c cá c bị cá o bà n bạ c bá n ma tú y. Công an kiể m tra có thu giữ củ a H 01 gói ma túy. H tự nguyện nộp 100.000 đồ ng đó là tiền H lấy của Tr nạp thẻ điện thoại.

Đại diện theo ủy quyền của công ty TNHH T vắng mặt tại phiên tòa, lời trình bày tại cơ quan điều tra thể hiện: Ngày 18/6/2017 công ty cho bị cá o Tr thuê chiế c xe máy Yamaha Sirius BKS: 99G1- 392.77 làm phương tiện đi lại, không biế t bị cáo sử dụng để đi mua và bán ma tú y. Vì vậy công ty đề nghị xin lạ i chiế c xe má y trên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố cá c bị cáo theo Cáo trạng số 97/CTr- VKS ngày 07/9/2017. Trong phần luận tội đã phân tích nguyên nhân, tính chất, mức độ nguy hiểm cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vai trò của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử : Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân Tr phạm tội “Tà ng trữ , mua bán trái phép chất ma túy” ; bị cáo Nguyễ n Quang T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điể m b khoản 2, khoản 5 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33 Bộ luậ t hì nh sự : Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân Tr từ 7 năm 6 tháng đến 8 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/6/2017. Phạt bổ sung bị cáo từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng sung công quỹ Nhà nước.

Căn cứ điể m b khoản 2, khoản 5 Điều 194; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 33 Bộ luậ t hì nh sự : Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang T từ 7 năm đến 7 năm 6 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/6/2017. Phạt bổ sung bị cáo từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng sung công quỹ Nhà nước.

Về xử lý vậ t chứ ng : Áp dụng Điều 41 Bộ luậ t hì nh sự , Điề u 76 Bộ luậ t tố tụng hình sự : Tịch thu tiêu hủy 02 phong bì thư chứ a mẫ u vậ t cò n lạ i sau giá m đị nh, 01 vỏ bao thuốc lá hiệu craven , 01 hộ p nhự a đỏ , 01 bộ dụ ng cụ sử dụ ng ma túy, 01 máy lửa ga, 01 túi xách màu đen, 01 khẩ u trang;

Tịch thu sung công 800.000 tiề n ngân hà ng nhà nướ c Việ t Nam ; 01 điệ n thoại Nokia 105 và 01 điệ n thoạ i Viettel củ a bị cá o Tuyề n ; 01 điệ n thoạ i Iphone 6 của bị cáo Tr; 01 điệ n thoạ i Asus TooJ củ a D; 01 xe má y mà u đỏ không biể n kiể m soát không xác định được số khung, số máy. Trả lại bị cáo Tr 3.600.000 đồ ng và 01 điệ n thoạ i Nokia 105 nhưng tạ m giữ để đả m bả o thi hành án;

Trả lại Công ty TNHH T 01 chiế c xe má y Yamaha Sirius BKS: 99G1-392.77.

Các bị cáo sau khi nghe luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du thừa nhận có tội, không tranh luận mà chỉ xin giảm nhẹ hì nh phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬ N ĐỊ NH CỦ A HỘ I ĐỒ NG XÉ T XƢ̉ :

Tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân . Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lờ i khai củ a ngườ i là m chứ ng, vật chứng thu giữ được và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 12 giờ ngà y 21/6/2017 tại nhà nghỉ Y ở thôn L, thị trấn L, bị cáo Tr đưa cho bị cáo T 01 gói ma túy để mang bán cho Nguyễn Văn D. Tại khu vực đường cánh đồng thôn L, thị trấn L, bị cáo T bán cho D 01 gói ma túy và nhận 300.000 đồ ng. Chiề u cù ng ngà y bị cáo Tr tiế p tụ c đưa cho bị cáo T 02 gói ma túy, trong đó 01 gói bán cho Nguyễn Văn H còn 01 gói để sử dụng. Tại ngã tư thị trấ n L, bị cáo T bán cho H 01 gói ma túy trọng lượng 0,3073 gam là chất Methamphetamine, ngoài ra còn thu giữ 01 gói ma túy Methamphetamine có trọng lượng 0,1602 gam cất giấu trên ngườ i bị cá o T . Khám xét phòng 203 nhà nghỉ Y thu giữ củ a bị cáo Tr 10 gói ma tú y là chất Methamphetamine, trọng lượng 1,6706 gam. Thu giữ của H 01 gói ma túy chất Methamphetamine, trọng lượng 0,2992 gam. Hành vi trên của các bị cáo đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” , tội phạm và hình phạt được quy định Điều 194 Bộ luật hình sự . Trong ngà y 21/6/2017 các bị cáo 02 lầ n bán ma tú y thu 800.000 đồng. Căn cứ tiểu mục 2.3 mục I Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 thì hành vi trên thuộc Tr hợp “Phạm tội nhiều lần” quy đinh tại điểm b khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự. Cáo trạng truy tố các bị cáo là đú ng ngườ i, đú ng tộ i, đú ng phá p luậ t. Ngoài ra bị cáo Tr có hành vi tàng trữ 1,6706 gam chất Methamphetamine nên Cá o trạ ng truy tố bị cá o Nguyễ n Xuân Tr về tộ i ghé p “Tà ng trữ , mua bá n trá i phé p chấ t ma tú y” theo điể m b khoả n 2 Điề u 194 Bộ luậ t hì nh sự là có căn cứ .

Hành vi phạm tội của cá c bị cá o là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây khó khăn trong công tác phòng chống ma túy. Ma túy từ khi xuất hiện đã thực sự là một thảm họa, gây nhiều tác hại to lớn đối với con người và cộng đồng, gia tăng các loại tội phạm xã hội, làm băng hoại đạo đức, suy kiệt giống nòi. Đã có biết bao gia đình có người mắc vào tệ nạn nghiện hút ma túy mà dẫn đến tan vỡ gia đình, vợ cH phải lìa tan, con cái phải bơ vơ. Cũng từ tệ nạn nghiện hút ma túy mà có nhiều người dân lương thiện chỉ vì ma túy đã trở thành những người phạm tội mất hết cả nhân tính. Nguy hiểm hơn là hiện nay, tệ nạn nghiện hút ma túy đã và đang len lỏi vào cả học đường ở các cấp dẫn đến tình trạng phạm tội ở các thanh thiếu niên, học sinh, sinh viên có chiều hướng gia tăng. Dứng trước tình hình đó Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản, mở các cuộc vận động, tuyên truyền toàn dân tham gia tích cực đấu tranh, ngăn chặn tệ nạn mua bán và nghiện ma túy làm trong sạch xã hôi. Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt các bị cáo một mức án nghiêm khắc , cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục , cải tạo các bị cáo trở thành công dân sống có ích cho xã hội.

Trong vụ án các bị cáo khi thự c hiệ n hà nh vi phạ m tộ i không có sự bà n bạ c phân công cụ thể nên thuộ c trườ ng hợ p đồ ng phạ m giả n đơn . Nguồn gốc số ma túy là của bị cáo Tr, khi có người hỏi mua bị cáo giao cho bị cáo T đi bán nên có vai trò chính. Bị cáo T tuy không được hưởng lợi vật chất nhưng được bị cáo Tr cho sử dụng ma túy không lấy tiền nên rất tích cực giúp sức đi bán ma túy

Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng , giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo thì thấy : Các bị cáo là đối tượng sử dụng chấ t ma tú y . Bị cáo Tr có 01 tiề n sự , ngày 10/11/2016 bị UBND phường V áp dụng biện pháp giáo dục tại cấp xã, phường, thị trấn trong thời hạn 03 tháng. Tuy nhiên tại cơ quan điều tra cũng như tạ i phiên tò a hôm nay cá c bị cá o có thá i độ khai bá o thà nh khẩ n , ăn năn hố i cả i về hà nh vi phạ m tộ i củ a bả n thân . Vì vậy các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự. Bị cáo T có thời gian phục vụ trong quân đội nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điề u 46 Bộ luậ t hì nh sự . Các bị cáo không có tình tiết tăng nặ ng trá ch nhiệ m hì nh sự.

Về hì nh phạ t bổ sung : Các bị cáo phạm tội với mục đích vụ lợi nên cần áp dụng hì nh phạ t bổ sung phạ t tiề n đố i vớ i cá c bị cá o là có căn cứ.

Về xử lý vậ t chứ ng: Trong quá trì nh phạ m tộ i cá c bị cá o T sử dụ ng chiế c điệ n thoại Viettel, bị cáo Tr sử dụ ng điệ n thoạ i Iphone 6, đối tượng D sử dụng điệ n thoạ i Asus TooJ liên lạ c mu a bá n ma tú y . Ngoài ra bị cáo T còn cất giấu ma túy trong nắ p pin điệ n thoạ i Nokia 105 nên cần tịch thu sung công 04 chiếc điện thoại trên. Đối với số tiền thu giữ 4.400.000 đồ ng trong đó có 300.000 đồng D bỏ ra mua ma túy, 500.000 đồ ng H bỏ ra mua ma tú y, chiếc xe máy màu đỏ không biển kiểm soát bị cáo Tr mua của người phụ nữ không quen biết sau đó cho bị cáo T sử dụng. Bị cáo T có sử dụng đi bán ma túy nên cần tịch thu sung công . Một số vật chứng khác như 02 phong bì thư chứ a mẫ u vậ t cò n lạ i sau giá m đị nh , 01 vỏ bao thuốc lá , 01 hộ p nhự a đỏ , 01 bộ dụ ng cụ sử dụ ng ma tú y , 01 máy lửa ga , 01 túi xách màu đen , 01 khẩ u trang giá trị sử dụ ng thấ p cầ n tị ch thu tiêu hủ y . Đối với số tiền 3.600.000 đồ ng và điệ n thoạ i Nokia 105 không liên quan vụ á n cầ n trả lạ i cho bị cá o Tr nhưng tạm giữ đảm bảo thi hành án. Công ty TNHH T cho bị cá o Tr thuê 01 chiế c xe má y Yamaha Sirius BKS: 99G1- 392.77 không biế t bị cá o sử dụ ng để đi mua bá n trá i phép chất ma túy nên cầ n trả lạ i cho công ty là phù hợp.

Đối với số ma túy thu giữ của bị cáo T, các đối tượng H, H chưa đủ trọng lượng truy cứu trách nhiệm hình sự. Cả ba chưa có tiền án, tiền sự nên Công an huyện Tiên Du đã quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là đúng quy định của pháp luật . Quá trình điều tra cũng làm rõ H không biết bị cáo Tr tàng trữ trái phép chất ma túy cũng như hành vi bán ma túy. Do vậy không có căn cứ để xử lý H về hành vi không tố giá c tội phạm.

Liên quan trong vụ án do số ma túy D, H mua của các bị cáo đã sử dụng hết nên không thể xác định trọng lượng. Cả hai chưa có tiền án, tiền sự nên Công an huyện Tiên Du ra quyết định xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là đúng quy định của phá p luật. Ngoài ra hành vi sử dụng trái phép chất ma túy trong nhà nghỉ của các bị cáo và H đã bị xử phạt hành chính là phù hợp.

Chị Vũ Thị N là người quản lý nhà nghỉ Y không biết các bị cáo thuê phòng 203 để sử dụng trái phép chất ma túy và phạm tội về ma túy. Do vậy Chủ tịch UBND huyện Tiên Du ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền đối với chị Na là phù hợp.

Đối với người phụ nữ bán chất ma túy cho Tr ở khu vực bến xe thành phố B. Do Tr không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra chưa có căn cứ xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau. Bị cáo T còn khai nhận có một vài lần đi bán ma túy hộ bị cáo Tr, nhưng không nhớ được cụ thể. Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, khi nào làm rõ được sẽ xử lý sau.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân Tr phạm tội “Tàng trữ, mua bán trá i phé p chấ t ma tú y”; bị cáo Nguyễn Quang T phạm tộ i “ Mua bá n trá i phé p chấ t ma tú y”

2. Áp dụng điể m b khoản 2, khoản 5 Điều 194, điểm p khoản 1, (khoản 2 đố i vớ i bị cá o Tuyề n ), Điều 46, Điều 33, Điề u 41 Bộ luậ t hì nh sự . Điều 76, Điề u 99, Điều 228 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân Tr 8 (Tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/6/2017. Phạt bổ sung bị cáo 7.000.000 đồng sung công quỹ nhà nước.

Bị cáo Nguyễn Quang T 7 (Bảy) năm tù. Thờ i hạ n tù tí nh từ ngà y 21/6/2017. Phạt bổ sung bị cáo 5.000.000 đồng sung công quỹ nhà nước.

Tạm giam mỗi bị cáo 45 ngày, kể từ ngày tuyên án để bảo đảm thi hành án.

3. Về xử lý vậ t chứ ng:

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 02 phong bì thư đượ c niêm phong dá n kí n bên ngoà i có đó ng dấ u niêm

phong và chữ ký củ a giá m đị nh viên - Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh kèm theo kết luận giám định số 871 và 872;

+ 01 vỏ bao thuốc lá hiệu Craven;

+ 01 hộ p nhự a mà u đỏ ;

+ 01 bộ dụ ng cụ sử dụ ng ma tú y tổ ng hợ p gồ m có 01 chai nhự a, nắ p chai màu trắng trên nắp chai cắm 01 ống hút màu đen và 01 coóng thủy tinh;

+ 01 máy lửa ga đã qua sử dụng;

+ 01 túi xách màu đen

+ 01 khẩu trang

- Tịch thu sung công nhà nước:

+ 800.000 đồng tiền ngân hàng Nhà nước Việt Nam;

+ 01 chiế c điệ n thoạ i di độ ng hiệ u Nokia 105 số Imel: 359968/05/161878/8;

+ 01 chiế c điệ n thoạ i di độ ng hiệ u Viettel;

+ 01 điệ n thoạ i di độ ng hiệ u Iphone 6 màu ghi;

+ 01 điệ n thoạ i Asus TooJ màu đỏ đen;

+ 01 xe mô tô màu đỏ không gắn biểm kiểm soát, không xác định được nhãn hiệu, số khung, số máy.

- Trả lại bị cáo Tr 3.600.000 đồng tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam và 01 điệ n thoạ i di độ ng hiệ u Nokia105 nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

- Trả lại Công ty TNHH T 01 chiế c xe má y Yamaha Sirius BKS: 99G1-392.77, số máy 5C63414755, số khung RLCS5C630AY414703.

(Theo biên bả n giao nhậ n vậ t chứ ng ngà y 12/9/2017)

4. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án.

Cỡ chữ