vanban.org

Bản án 131/2017/DSST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: khoản 1 Điều 228 và khoản 1 Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016 /UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí.

1- Cho Chị Phạm Ngọc Q được ly hôn với Anh Lê Công T. 2- Con chung: Chị Q khai không có, không yêu cầu giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Q-T"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: khoản 1 Điều 228 và khoản 1 Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016 /UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CAI LẬY
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 131/2017/DSST
Ngày 18/9/2017
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sâm

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Trần Thị Út

Bà Lê Thị Vân

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Thảo Lan-Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

Trong ngày 18 tháng 9 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 194/2017/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 5 năm 2017 về việc “Tranh chấp xin ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 111/2017/QĐST-HNGĐ ngày 09/8/2017; Quyết định hoãn phiên tòa số 87/2017/QĐST-HNGĐ ngày 25/8/2017 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phạm Ngọc Q, sinh năm 1992; Địa chỉ: Thôn N, xã P, huyện T, tỉnh B.

- Bị đơn: Anh Lê Công T, sinh năm 1990; Địa chỉ: Ấp H, xã P, huyện C, tỉnh T.

(Chị Q xin giải quyết vắng mặt, anh T vắng mặt không lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Chị Phạm Ngọc Q trình bày: Năm 2014 chị với Anh Lê Công T xác lập quan hệ vợ chồng và có đăng ký kết hôn; nguyên nhân chị xin ly hôn là do anh T sống không có trách nhiệm với vợ. Nay chị yêu cầu ly hôn với anh T.

Về con chung: không có

Tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.

Bị đơn Anh Lê Công T sau khi Tòa án thụ lý và tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng như thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử quyết định hoãn phiên tòa về việc Chị Q xin ly hôn nhưng anh đều vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về việc vắng mặt của các đương sự tại phiên tòa: Chị Phạm Ngọc Q có đơn xin giải vắng mặt tại phiên tòa theo qui định tại khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ Luật tố tụng Dân sự nên được chấp nhận. Đối với Anh Lê Công T đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do, căn cứ khoản 1 Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự xét xử theo thủ tục vắng mặt.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Q và anh T xác lập quan hệ vợ chồng từ năm 2014, có đăng ký kết hôn theo qui định của Luật Hôn nhân và Gia đình. Chị Q cho rằng mâu thuẩn vợ chồng đã trầm trọng, nguyên nhân chị xin ly hôn là do anh T sống không có trách nhiệm với vợ. Nay chị yêu cầu được ly hôn với anh T. Đối với anh T sau khi Tòa án thụ lý và đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng như: thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử... nhưng anh cũng không có ý kiến gì phản đối với yêu cầu của Chị Q xin ly hôn anh và cũng không có nguyện vọng được hàn gắn, đoàn tụ điều đó cho thấy, tình cảm vợ chồng đã thật sự tan vỡ, không còn khả năng tiếp tục duy trì quan hệ vợ chồng, do đó yêu cầu xin ly hôn của Chị Q là phù hợp với qui định tại Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình nên chấp nhận.

Về con chung: Chị Q khai không có

Về tài sản chung, nợ chung: Chị Q và anh T không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét .

Về án phí: Chị Q phải chịu án phí Hôn nhân sơ thẩm theo qui định pháp luật.

Về quyền kháng cáo Chị Q và anh T được quyền kháng cáo theo qui định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: khoản 1 Điều 228 và khoản 1 Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016 /UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí.

Xử:

1- Cho Chị Phạm Ngọc Q được ly hôn với Anh Lê Công T.

2- Con chung: Chị Q khai không có, không yêu cầu giải quyết.

3- Tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.

4- Về án phí: Chị Phạm Ngọc Q phải chịu 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng án phí Hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng dự phí đã nộp theo biên lai thu số 14411 ngày 16 tháng 5 năm 2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cai Lậy, xem như thi hành xong phần án phí.

5- Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày ngày kể từ tống đạt hoặc niêm yết bản án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ